Bản tin ngành hàng tháng 11/2018

Bản tin ngành hàng tháng 11/2018

03/12/2018 08:09

Bản tin ngành hàng tháng 11/2018

  • Xăng dầu: Giá dầu thế giới tháng 11 giảm 22%, tháng giảm mạnh nhất kể từ khủng hoảng tài chính 2008
  • Xi măng: Sản lượng tiêu thụ 11 tháng năm 2018 vượt 12% kế hoạch cả năm, dự báo tăng trưởng tích cực đến cuối năm
  • Than: Giá than xuất khẩu cao hơn trong nước từ 5-10 USD/tấn, dự báo nhu cầu tiêu thụ than cho điện năm 2018 tăng 5,4 triệu tấn so với năm trước
  • Gỗ: Xuất siêu lâm sản chính 11 tháng năm 2018 đạt 6,39 tỷ USD, dự báo giá trị xuất khẩu cả năm 2018 đạt 9,3 tỷ USD
  • Điện: Việt Nam đứng thứ 4 khu vực ASEAN về chỉ số Tiếp cận điện năng, tăng 37 bậc xếp hạng so với năm 2017
  • Phân bón: Giá phân đạm tăng 12-13% so với tháng trước do giá nguyên liệu đặc biệt là nguyên liệu khí tăng mạnh

Xăng dầu: Giá dầu thế giới tháng 11 giảm 22%, tháng giảm mạnh nhất kể từ khủng hoảng tài chính 2008

Giá dầu thô tiếp tục một tháng giảm liên tục từ mức đỉnh 4 năm 73 USD/thùng thời điểm cuối tháng 10 xuống mức thấp nhất 58,76 USD/thùng vào ngày 28/11 tương đương với mức giảm 22%, là mức giá thấp nhất từ đầu năm trở lại đây, và tháng 11/2018 cũng là tháng giảm mạnh nhất kể từ khủng hoảng tài chính năm 2008. Nguyên nhân của biến động này là do mối lo ngại dư thừa nguồn cung khi sản lượng khai thác dầu của Mỹ đạt đỉnh 11,6 triệu tấn vượt Nga trở thành nhà sản xuất dầu lớn nhất trên thế giới trong khi nhu cầu dự báo giảm.

Đà giảm của giá dầu thế giới chỉ chững lại vào ngày 29/11 sau khi Nga xem xét sẽ tham gia cắt giảm sản lượng cùng với Saudi Arabia và các thành viên khác của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), giá dầu kết thúc phiên đảo chiều tăng vọt 3% lên mức hơn 60 USD/thùng. Thị trường dự kiến OPEC và các đồng minh sẽ cắt giảm 1 triệu thùng/ngày, dự báo giá dầu giai đoạn cuối năm sẽ duy trì ổn định quanh mức giá 60 USD/thùng.

Cùng xu hướng giảm của giá dầu thế giới, giá xăng trong nước đã được điều chỉnh giảm 2 lần liên tiếp trong tháng, mỗi lít xăng qua điều chỉnh đến thời điểm hiện tại đã thấp hơn khoảng 2.000 đồng so với tháng trước.

Xi măng: Sản lượng tiêu thụ 11 tháng năm 2018 vượt 12% kế hoạch cả năm, dự báo tăng trưởng tích cực đến cuối năm

Tiêu thụ sản phẩm xi măng trong 11 tháng năm 2018 tại thị trường nội địa và xuất khẩu đạt 94,97 triệu tấn, tăng 44% so với cùng kỳ, vượt 12% so với mục tiêu kế hoạch của cả năm. Tiêu thụ nội địa đạt 66 triệu tấn đóng góp 69,5% trên tổng tiêu thụ toàn ngành, trong đó tiêu thụ của Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) khoảng 26,74 triệu tấn tăng 15% so với cùng kỳ năm 2017. Kim ngạch xuất khẩu xi măng 11 tháng năm 2018 đạt 28,97 triệu tấn vượt 65% kế hoạch.

Dự báo từ nay đến cuối năm sản lượng xi măng tiêu thụ tại thị trường nội địa sẽ vẫn tiếp tục tăng do thời tiết rất thuận tiện cho việc xây dựng, đây cũng là thời điểm nhiều dự án xây dựng, bất động sản gấp rút được hoàn thành để mở bán vào dịp cuối năm. Trong khi đó,sản lượng xuất khẩu sản phẩm vẫn tiếp tục tăng do không gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt của xi măng Trung Quốc vì đang tạm ngừng tăng sản lượng sản xuất.

Than: Giá than xuất khẩu cao hơn trong nước từ 5-10 USD/tấn, dự báo nhu cầu tiêu thụ than cho điện năm 2018 tăng 5,4 triệu tấn so với năm trước

Trong 11 tháng năm 2018, tổng sản lượng than tiêu thụ của Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam (TKV) đạt 37,39 triệu tấn, bằng 103,9% kế hoạch (đạt 95,9% kế hoạch điều chỉnh) và bằng 117% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, sản lượng than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện đạt 26,9 triệu tấn, vượt kế hoạch cả năm (103%) và bằng 126% so với cùng kỳ năm 2017.

Theo tính toán của TKV, dự kiến cả năm 2018 sản lượng than tiêu thụ của TKV là 40 triệu tấn, tăng 4 triệu tấn so với kế hoạch đầu năm và tăng 4,4 triệu tấn so với cùng kỳ 2017, riêng than cho điện là 29 triệu tấn, tăng 5,4 triệu tấn (tương đương sản lượng 3 mỏ than) so với thực hiện 2017. Nguyên nhân nhu cầu tăng mạnh do: (1) tăng trưởng điện 2018 đạt mức cao, trong khi thủy điện và nhiệt điện khí giảm huy động nên nhu cầu nhiệt điện than tăng mạnh; (2) giá than thế giới cao hơn so với than sản xuất trong nước từ 5-10 USD/tấn tuỳ chủng loại dẫn tới các hộ tiêu thụ (như: điện, xi măng, hoá chất, thép) chuyển sang mua than từ TKV; (3) nhiều nhà máy nhiệt điện không chỉ tăng nhu cầu sử dụng than mà còn tăng đồng loạt cùng một thời điểm.

Nhu cầu tăng cao trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp, TKV phải huy động tồn kho bao gồm cả than dự trữ chiến lược đặc biệt từ Nhiệt điện Thái Bình 1 để pha trộn và cung cấp cho các hộ tiêu thụ, điều chỉnh tăng kế hoạch sản xuất thêm 1,5 triệu tấn than nguyên khai.

Gỗ: Xuất siêu lâm sản chính 11 tháng năm 2018 đạt 6,39 tỷ USD, dự báo giá trị xuất khẩu cả năm 2018 đạt 9,3 tỷ USD

Theo thống kê của Bộ NN & PTNT giá trị xuất khẩu lâm sản chính 11 tháng năm 2018 ước đạt 8,49 tỷ USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2017, tương đương với mức xuất siêu 6,39 tỷ USD. Kết quả tăng trưởng tích cực nhờ ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, hiện gần 50% trị giá đồ nội thất bằng gỗ của Mỹ được nhập khẩu từ Trung Quốc, việc Mỹ đánh thuế cao với các mặt hàng gỗ của Trung Quốc (10%- 25%) có thể có lợi cho các doanh nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam.

Xuất khẩu lâm sản tập trung chủ yếu tại 5 thị trường, gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu, Trung Quốc và Hàn Quốc, chiếm khoảng 87,33% kim ngạch xuất khẩu lâm sản.

Ngược lại trong 11 tháng năm 2018, giá trị nhập khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ ước đạt 2,1 tỷ USD, tăng 6,17% so với cùng kỳ năm 2017. Những thị trường chủ yếu trong 10 tháng đầu năm của sản phẩm gỗ gồm: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Campuchia,  Thái Lan, Malaysia, Chilê, Đức, Brazil, New Zealand, Pháp chiếm 61,5% giá trị kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ.

Ngành chế biến gỗ và lâm sản dự báo giá trị xuất khẩu lâm sản chính cả năm đạt 9,3 tỷ USD, mục tiêu đưa ngành gỗ trở thành một trong 7 ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất và đến năm 2025 kỳ vọng đạt kim ngạch xuất khẩu 25 tỉ USD.

Điện: Việt Nam đứng thứ 4 khu vực ASEAN về chỉ số Tiếp cận điện năng, tăng 37 bậc xếp hạng so với năm 2017

Theo số liệu thống kê của EVN, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống lũy kế 10 tháng đầu năm 2018 đạt 182,6 tỷ kWh, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng điện thương phẩm toàn EVN lũy kế 10 tháng năm 2018 ước đạt 159,3 tỷ kWh, tăng 9,78% so cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng điện thương phẩm nội địa tăng 9,87%.

Về các chỉ số độ tin cậy cung cấp điện, tính chung toàn Tập đoàn, trong 10 tháng đầu năm, tổng thời gian mất điện khách hàng bình quân (SAIDI) là 646,76 phút (giảm 24,32% so với cùng kỳ 2017), tần suất mất điện thoáng qua bình quân (MAIFI) là 1,3 lần/khách hàng, tần suất mất điện kéo dài bình quân (SAIFI) là 5,33 lần/khách hàng. Tỷ lệ tổn thất điện năng toàn Tập đoàn trong 10 tháng năm 2018 ước đạt 6,95% thấp hơn 0,25% so với kế hoạch phấn đấu (7,20%). 

Theo báo cáo của World Bank trong tháng 10/2018 về kết quả đánh giá các chỉ số năng lực cạnh tranh năm 2018 của 190 quốc gia/nền kinh tế trên thế giới, chỉ số Tiếp cận điện năng năm 2018 của Việt Nam đã thăng hạng vượt bậc, đạt 87,94 điểm đứng ở vị trí 27/190 là mức xếp hạng cao nhất từ trước đến nay tăng tới 37 bậc so với năm 2017. Đây là năm thứ 5 liên tiếp chỉ số Tiếp cận điện năng của Việt Nam được cải thiện về vị trí, là nền kinh tế có chỉ số Tiếp cận điện năng cải thiện vị trí nhiều nhất trong khu vực. Việt Nam đã vượt qua Philippin và hiện đứng thứ 4 khu vực Asean - tức nằm trong nhóm ASEAN-4, hoàn thành sớm mục tiêu đặt ra của Chính phủ đến 2020.

Phân bón: Giá phân đạm tăng 12-13% so với tháng trước do giá nguyên liệu đặc biệt là nguyên liệu khí tăng mạnh

Giá phân đạm (urê) Cà Mau có và phân urê Phú Mỹ so với tháng trước tăng 1.000 đồng/kg mỗi loại tương đương mức tăng 12-13%, các loại phân 3 màu NPK chuyên dùng cho cây lúa giá bán cho nông dân chênh lệch so với giá nhập từ nhà máy có từ 500 - 600 đồng/kg. Nguyên nhân tăng giá do giá nguyên liệu khí và nguyên liệu cơ bản (urê, kali, DAP...) đều tăng xuất phát từ: (1) một số quốc gia sản xuất nhiều như Trung Quốc (thị trường nhập khẩu lớn 80% tổng kim ngạch của Việt Nam) hạn chế xuất khẩu; (2) việc áp thuế tự vệ cho nguyên liệu DAP, MAP nhập khẩu; (3) kể từ năm 2019 giá khí PVN áp dụng cho Công ty Đạm Cà Mau sẽ được xem xét điều chỉnh lên tới 7-8 USD/BTU cao gấp 2-3 lần giá áp dụng hiện nay do chính sách điều tiết giá khí của PVN khi doanh nghiệp cổ phần hóa kết thúc.

Mỗi đơn hàng của các doanh nghiệp ký kết hợp đồng đều đã thỏa thuận cụ thể về sản lượng và giá thành không thể điều chỉnh tăng giá bán do vậy việc tăng giá nguyên liệu đầu vào sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận của các công ty.

LPB Research tổng hợp

Bản tin ngành hàng tháng 11/2018

Bản tin ngành hàng tháng 11/2018

  • Xăng dầu: Giá dầu thế giới tháng 11 giảm 22%, tháng giảm mạnh nhất kể từ khủng hoảng tài chính 2008
  • Xi măng: Sản lượng tiêu thụ 11 tháng năm 2018 vượt 12% kế hoạch cả năm, dự báo tăng trưởng tích cực đến cuối năm
  • Than: Giá than xuất khẩu cao hơn trong nước từ 5-10 USD/tấn, dự báo nhu cầu tiêu thụ than cho điện năm 2018 tăng 5,4 triệu tấn so với năm trước
  • Gỗ: Xuất siêu lâm sản chính 11 tháng năm 2018 đạt 6,39 tỷ USD, dự báo giá trị xuất khẩu cả năm 2018 đạt 9,3 tỷ USD
  • Điện: Việt Nam đứng thứ 4 khu vực ASEAN về chỉ số Tiếp cận điện năng, tăng 37 bậc xếp hạng so với năm 2017
  • Phân bón: Giá phân đạm tăng 12-13% so với tháng trước do giá nguyên liệu đặc biệt là nguyên liệu khí tăng mạnh

Xăng dầu: Giá dầu thế giới tháng 11 giảm 22%, tháng giảm mạnh nhất kể từ khủng hoảng tài chính 2008

Giá dầu thô tiếp tục một tháng giảm liên tục từ mức đỉnh 4 năm 73 USD/thùng thời điểm cuối tháng 10 xuống mức thấp nhất 58,76 USD/thùng vào ngày 28/11 tương đương với mức giảm 22%, là mức giá thấp nhất từ đầu năm trở lại đây, và tháng 11/2018 cũng là tháng giảm mạnh nhất kể từ khủng hoảng tài chính năm 2008. Nguyên nhân của biến động này là do mối lo ngại dư thừa nguồn cung khi sản lượng khai thác dầu của Mỹ đạt đỉnh 11,6 triệu tấn vượt Nga trở thành nhà sản xuất dầu lớn nhất trên thế giới trong khi nhu cầu dự báo giảm.

Đà giảm của giá dầu thế giới chỉ chững lại vào ngày 29/11 sau khi Nga xem xét sẽ tham gia cắt giảm sản lượng cùng với Saudi Arabia và các thành viên khác của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), giá dầu kết thúc phiên đảo chiều tăng vọt 3% lên mức hơn 60 USD/thùng. Thị trường dự kiến OPEC và các đồng minh sẽ cắt giảm 1 triệu thùng/ngày, dự báo giá dầu giai đoạn cuối năm sẽ duy trì ổn định quanh mức giá 60 USD/thùng.

Cùng xu hướng giảm của giá dầu thế giới, giá xăng trong nước đã được điều chỉnh giảm 2 lần liên tiếp trong tháng, mỗi lít xăng qua điều chỉnh đến thời điểm hiện tại đã thấp hơn khoảng 2.000 đồng so với tháng trước.

Xi măng: Sản lượng tiêu thụ 11 tháng năm 2018 vượt 12% kế hoạch cả năm, dự báo tăng trưởng tích cực đến cuối năm

Tiêu thụ sản phẩm xi măng trong 11 tháng năm 2018 tại thị trường nội địa và xuất khẩu đạt 94,97 triệu tấn, tăng 44% so với cùng kỳ, vượt 12% so với mục tiêu kế hoạch của cả năm. Tiêu thụ nội địa đạt 66 triệu tấn đóng góp 69,5% trên tổng tiêu thụ toàn ngành, trong đó tiêu thụ của Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) khoảng 26,74 triệu tấn tăng 15% so với cùng kỳ năm 2017. Kim ngạch xuất khẩu xi măng 11 tháng năm 2018 đạt 28,97 triệu tấn vượt 65% kế hoạch.

Dự báo từ nay đến cuối năm sản lượng xi măng tiêu thụ tại thị trường nội địa sẽ vẫn tiếp tục tăng do thời tiết rất thuận tiện cho việc xây dựng, đây cũng là thời điểm nhiều dự án xây dựng, bất động sản gấp rút được hoàn thành để mở bán vào dịp cuối năm. Trong khi đó,sản lượng xuất khẩu sản phẩm vẫn tiếp tục tăng do không gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt của xi măng Trung Quốc vì đang tạm ngừng tăng sản lượng sản xuất.

Than: Giá than xuất khẩu cao hơn trong nước từ 5-10 USD/tấn, dự báo nhu cầu tiêu thụ than cho điện năm 2018 tăng 5,4 triệu tấn so với năm trước

Trong 11 tháng năm 2018, tổng sản lượng than tiêu thụ của Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam (TKV) đạt 37,39 triệu tấn, bằng 103,9% kế hoạch (đạt 95,9% kế hoạch điều chỉnh) và bằng 117% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, sản lượng than cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện đạt 26,9 triệu tấn, vượt kế hoạch cả năm (103%) và bằng 126% so với cùng kỳ năm 2017.

Theo tính toán của TKV, dự kiến cả năm 2018 sản lượng than tiêu thụ của TKV là 40 triệu tấn, tăng 4 triệu tấn so với kế hoạch đầu năm và tăng 4,4 triệu tấn so với cùng kỳ 2017, riêng than cho điện là 29 triệu tấn, tăng 5,4 triệu tấn (tương đương sản lượng 3 mỏ than) so với thực hiện 2017. Nguyên nhân nhu cầu tăng mạnh do: (1) tăng trưởng điện 2018 đạt mức cao, trong khi thủy điện và nhiệt điện khí giảm huy động nên nhu cầu nhiệt điện than tăng mạnh; (2) giá than thế giới cao hơn so với than sản xuất trong nước từ 5-10 USD/tấn tuỳ chủng loại dẫn tới các hộ tiêu thụ (như: điện, xi măng, hoá chất, thép) chuyển sang mua than từ TKV; (3) nhiều nhà máy nhiệt điện không chỉ tăng nhu cầu sử dụng than mà còn tăng đồng loạt cùng một thời điểm.

Nhu cầu tăng cao trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp, TKV phải huy động tồn kho bao gồm cả than dự trữ chiến lược đặc biệt từ Nhiệt điện Thái Bình 1 để pha trộn và cung cấp cho các hộ tiêu thụ, điều chỉnh tăng kế hoạch sản xuất thêm 1,5 triệu tấn than nguyên khai.

Gỗ: Xuất siêu lâm sản chính 11 tháng năm 2018 đạt 6,39 tỷ USD, dự báo giá trị xuất khẩu cả năm 2018 đạt 9,3 tỷ USD

Theo thống kê của Bộ NN & PTNT giá trị xuất khẩu lâm sản chính 11 tháng năm 2018 ước đạt 8,49 tỷ USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm 2017, tương đương với mức xuất siêu 6,39 tỷ USD. Kết quả tăng trưởng tích cực nhờ ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, hiện gần 50% trị giá đồ nội thất bằng gỗ của Mỹ được nhập khẩu từ Trung Quốc, việc Mỹ đánh thuế cao với các mặt hàng gỗ của Trung Quốc (10%- 25%) có thể có lợi cho các doanh nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam.

Xuất khẩu lâm sản tập trung chủ yếu tại 5 thị trường, gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu, Trung Quốc và Hàn Quốc, chiếm khoảng 87,33% kim ngạch xuất khẩu lâm sản.

Ngược lại trong 11 tháng năm 2018, giá trị nhập khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ ước đạt 2,1 tỷ USD, tăng 6,17% so với cùng kỳ năm 2017. Những thị trường chủ yếu trong 10 tháng đầu năm của sản phẩm gỗ gồm: Trung Quốc, Hoa Kỳ, Campuchia,  Thái Lan, Malaysia, Chilê, Đức, Brazil, New Zealand, Pháp chiếm 61,5% giá trị kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ.

Ngành chế biến gỗ và lâm sản dự báo giá trị xuất khẩu lâm sản chính cả năm đạt 9,3 tỷ USD, mục tiêu đưa ngành gỗ trở thành một trong 7 ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất và đến năm 2025 kỳ vọng đạt kim ngạch xuất khẩu 25 tỉ USD.

Điện: Việt Nam đứng thứ 4 khu vực ASEAN về chỉ số Tiếp cận điện năng, tăng 37 bậc xếp hạng so với năm 2017

Theo số liệu thống kê của EVN, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống lũy kế 10 tháng đầu năm 2018 đạt 182,6 tỷ kWh, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng điện thương phẩm toàn EVN lũy kế 10 tháng năm 2018 ước đạt 159,3 tỷ kWh, tăng 9,78% so cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng điện thương phẩm nội địa tăng 9,87%.

Về các chỉ số độ tin cậy cung cấp điện, tính chung toàn Tập đoàn, trong 10 tháng đầu năm, tổng thời gian mất điện khách hàng bình quân (SAIDI) là 646,76 phút (giảm 24,32% so với cùng kỳ 2017), tần suất mất điện thoáng qua bình quân (MAIFI) là 1,3 lần/khách hàng, tần suất mất điện kéo dài bình quân (SAIFI) là 5,33 lần/khách hàng. Tỷ lệ tổn thất điện năng toàn Tập đoàn trong 10 tháng năm 2018 ước đạt 6,95% thấp hơn 0,25% so với kế hoạch phấn đấu (7,20%). 

Theo báo cáo của World Bank trong tháng 10/2018 về kết quả đánh giá các chỉ số năng lực cạnh tranh năm 2018 của 190 quốc gia/nền kinh tế trên thế giới, chỉ số Tiếp cận điện năng năm 2018 của Việt Nam đã thăng hạng vượt bậc, đạt 87,94 điểm đứng ở vị trí 27/190 là mức xếp hạng cao nhất từ trước đến nay tăng tới 37 bậc so với năm 2017. Đây là năm thứ 5 liên tiếp chỉ số Tiếp cận điện năng của Việt Nam được cải thiện về vị trí, là nền kinh tế có chỉ số Tiếp cận điện năng cải thiện vị trí nhiều nhất trong khu vực. Việt Nam đã vượt qua Philippin và hiện đứng thứ 4 khu vực Asean - tức nằm trong nhóm ASEAN-4, hoàn thành sớm mục tiêu đặt ra của Chính phủ đến 2020.

Phân bón: Giá phân đạm tăng 12-13% so với tháng trước do giá nguyên liệu đặc biệt là nguyên liệu khí tăng mạnh

Giá phân đạm (urê) Cà Mau có và phân urê Phú Mỹ so với tháng trước tăng 1.000 đồng/kg mỗi loại tương đương mức tăng 12-13%, các loại phân 3 màu NPK chuyên dùng cho cây lúa giá bán cho nông dân chênh lệch so với giá nhập từ nhà máy có từ 500 - 600 đồng/kg. Nguyên nhân tăng giá do giá nguyên liệu khí và nguyên liệu cơ bản (urê, kali, DAP...) đều tăng xuất phát từ: (1) một số quốc gia sản xuất nhiều như Trung Quốc (thị trường nhập khẩu lớn 80% tổng kim ngạch của Việt Nam) hạn chế xuất khẩu; (2) việc áp thuế tự vệ cho nguyên liệu DAP, MAP nhập khẩu; (3) kể từ năm 2019 giá khí PVN áp dụng cho Công ty Đạm Cà Mau sẽ được xem xét điều chỉnh lên tới 7-8 USD/BTU cao gấp 2-3 lần giá áp dụng hiện nay do chính sách điều tiết giá khí của PVN khi doanh nghiệp cổ phần hóa kết thúc.

Mỗi đơn hàng của các doanh nghiệp ký kết hợp đồng đều đã thỏa thuận cụ thể về sản lượng và giá thành không thể điều chỉnh tăng giá bán do vậy việc tăng giá nguyên liệu đầu vào sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận của các công ty.

LPB Research tổng hợp

Tin khác