Bản tin ngành hàng tháng 1/2019

Bản tin ngành hàng tháng 1/2019

01/02/2019 14:57

BẢN TIN NGÀNH HÀNG THÁNG 1/2019

Một số thông tin chính:

Ngành Nông nghiệp:

  • Gạo: Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc năm 2019 dự kiến giảm nhưng tăng tại Phillipines, Indonesia;
  • Cao su: Giá cao su khó tăng mạnh trong năm 2019 do kinh tế thế giới và nhu cầu tiêu thụ được dự báo tăng trưởng chậm lại;
  • Thủy sản: Ngành Thủy sản sẽ hưởng lợi lớn từ việc giảm thuế theo các Hiệp định thương mại;
  • Điều: Nhiều doanh nghiệp chế biến điều Việt Nam lỗ trong năm 2018 và dự báo gặp nhiều thách thức trong năm 2019;
  • Thịt lợn: Giá lợn dự báo diễn biến khó lường trong năm 2019.

Ngành Điện: Cung không đủ đáp ứng nhu cầu, ngành điện sẽ phải đa dạng nguồn cung trong năm 2019, trong đó tính đến phương án mua điện và phát triển điện khí;

Dầu mỏ: Giá dự báo giảm trong năm 2019 bất chấp việc OPEC giảm sản lượng khai thác;

Sắt thép: Giá vật liệu thô trên thế giới tăng, trong nước một số doanh nghiệp điều chỉnh tăng nhẹ giá bán ra;

Dệt may – da giày: Ngành dệt may năm 2019 sẽ thách thức hơn 2018 nhưng dự báo kim ngạch xuất khẩu có thể đạt 40 tỷ USD

 

1. NGÀNH NÔNG NGHIỆP

Gạo: Xuất khẩu gạo năm 2019 có thể biến động mạnh giữa các thị trường tiêu thụ. Theo đó, nhu cầu nhập khẩu gạo trong quý I/2019 sẽ tăng nhẹ tại các thị trường truyền thống như Phillipines, Indonesia do hai nước này vừa bị ảnh hưởng nặng bởi thiên tai. Phillipines gỡ bỏ chính sách hạn chế nhập khẩu, đã có 166 công ty Phillipines nộp đơn xin mua 1 triệu tấn gạo, trong đó có nhiều đơn hàng gạo Việt Nam. Tuy nhiên, xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc dự báo gặp khó trong năm 2019 do nước này siết chặt nhập khẩu qua đường biên mậu và áp thuế nhập khẩu gạo nếp lên 40 - 50%. Đồng thời, Trung Quốc cũng tăng cường quản lí vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, bao bì, nhãn mác, siết chặt doanh nghiệp nhập khẩu gạo vào Trung Quốc.

Cao su: Giá cao su khó tăng mạnh trong năm 2019 do nhu cầu tiêu thụ được dự báo tăng trưởng chậm lại. Theo Hiệp hội các nước sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC), tiêu thụ cao su tự nhiên trên toàn cầu dự báo tăng 4,2% trong năm 2019, đạt 14,59 triệu tấn và thấp hơn mức tăng 5,2% của năm 2018. Tiêu thụ cao su tự nhiên tại Trung Quốc, nơi chiếm 40% tổng tiêu dùng cao su tự nhiên thế giới, dự báo chỉ tăng 3,2% trong năm 2019 lên 5,85 triệu tấn, sau khi tăng 5,3% năm 2018 và 7,5% năm 2017. Tại Ấn Độ, tiêu thụ dự báo tăng 4% trong năm 2019, thấp hơn nhiều mức tăng trưởng sơ bộ của năm 2018 là 12,6%. Trong khi đó, sản lượng cao su thế giới năm 2019 dự báo đạt 14,84 triệu tấn, gần cân bằng với mức tiêu thụ nhưng thị trường vẫn chưa thoát hẳn khỏi áp lực dư cung nếu giá cao su phục hồi đến mức hấp dẫn, sản lượng cao su của nhiều nước sẽ tăng so với dự kiến, với sản lượng cao su Thái Lan năm 2019 có thể cao hơn 14% so với dự báo; Malaysia có thể tăng 53% và Ấn Độ có thể tăng 65%.

Thủy sản: Ngành Thủy sản sẽ hưởng lợi lớn khi Hiệp định CPTPP bắt đầu có hiệu lực từ ngày 14/1, Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) đang ở năm thực thi thứ 10 và EVFTA có thể được phê chuẩn vào đầu năm 2019. Với hiệp định CPTTP, các nước Úc, Canada, Chile, New Zealand xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu với tất cả sản phẩm thủy sản ngay khi CPTPP có hiệu lực. Mexico sẽ giảm thuế một số sản phẩm thủy sản từ 10-20% về 0% ngay lập tức, tuy nhiên, một số sản phẩm cá như cá hồi, cá rô phi, cá thu, cá giò, cá kiếm, tôm... được giảm thuế theo lộ trình 5-10 năm. Ngay khi EVFTA có hiệu lực, khoảng 50% số dòng thuế đối với sản phẩm thủy sản sẽ giảm về 0%, 50% số dòng thuế còn lại sẽ được xóa bỏ dần trong 3-7 năm tiếp theo. Riêng cá ngừ đóng hộp và surimi, EU dành cho Việt Nam có hạn ngạch thuế quan lần lượt là 11.500 tấn và 500 tấn. Theo hiệp định VJEPA, đến năm 2019, Nhật Bản hoàn thành lộ trình cắt giảm thuế về 0% đối với 100% hàng thủy sản của Việt Nam.

Điều: Nhiều doanh nghiệp chế biến điều Việt Nam lại lỗ mặc dù xuất khẩu điều đạt kỷ lục 3,52 tỉ USD. Năm 2018 ngành điều gặp nhiều khó khăn khi: (i) Hàng trăm tấn điều thô nhập khẩu về Việt Nam phải nằm chờ tại cảng và kho ngoại quan do chất lượng xấu hơn mọi năm; (ii) Giữa năm 2018, giá điều nhân thế giới xuống thấp trong khi giá nguyên liệu đứng ở mức cao khiến rủi ro trong chế biến điều tăng nên các ngân hàng siết chặt cho vay tín chấp nhập khẩu điều thô, nhất là với các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp mới tham gia thị trường; (iii) Tình trạng nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng mua nguyên liệu điều và đã đặt cọc nhưng lại hủy hợp đồng, bỏ tiền cọc để cắt lỗ. Năm 2019, tiêu thụ dự báo không tăng đột biến, trong khi nguồn cung tăng. Mỹ là thị trường nhập khẩu điều nhân lớn nhất của Việt Nam (32%) và họ đang chờ giá rẻ hơn để mua vào. Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung khiến cho hạt hạnh nhân (cùng phân khúc cạnh tranh với hạt điều nhưng giá rẻ hơn) khó xuất khẩu sang thị trường chính là Trung Quốc buộc phải bán ra ở thị trường Mỹ.

Thịt lợn: Giá lợn dự báo diễn biến khó lường trong năm 2019 do rủi ro dịch tả lợn châu Phi (ASF) từ Trung Quốc xâm nhiễm và lượng thịt lợn nhập khẩu gia tăng khi Việt Nam gia nhập CPTPP. Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) dự báo sản lượng thịt lợn toàn cầu tăng 1% lên 114,6 triệu tấn, với sự gia tăng đàn lợn tại Trung Quốc và Hoa Kỳ, trong khi nhu cầu thịt lợn ở hầu hết quốc gia tăng. Xuất khẩu thịt lợn toàn cầu dự báo sẽ tăng gần 3% trong năm 2019 nhờ nhu cầu mạnh. EU vẫn là nhà xuất khẩu hàng đầu vì nhu cầu tăng cao ở châu Á, đặc biệt là Trung Quốc.

2. NGÀNH ĐIỆN

Ngành điện đang phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, thách thức lớn nhất là nguy cơ thiếu điện do nhu cầu điện dự báo tiếp tục tăng trưởng cao nhưng hệ thống điện hầu như không có dự phòng nguồn điện. Ở Việt Nam, thuỷ điện hiện có công suất 20.000 MW, đến năm 2030 chỉ còn đóng góp 13 - 16% trong tổng cung nên không có khả năng tăng nữa. Trong ngắn hạn, hồ thuỷ điện sẽ thiếu nước, thậm chí tình trạng này dự báo sẽ kéo dài sang năm tới và có thể còn nghiêm trọng hơn. Trong khi đó, điện hạt nhân không có, phải bù bằng nhiệt điện, bao gồm cả nhiệt điện khí và than. Tuy nhiên, cung cấp than cho nhà máy điện đang khó khăn, trong khi nguồn khí để cung cấp cho các nhà máy điện đã giảm. Nhiều dự án nhiệt điện khí và than triển khai chậm, nhà đầu tư trong nước không đủ nguồn lực triển khai. Mỗi dự án điện từ 600 MW trở lên cần ít nhất 1 tỷ USD, EVN và Petro Vietnam đều đang rất khó khăn vì để đầu tư phải vay vốn bảo lãnh – điều này không được hoan nghênh vì ảnh hưởng đến trần nợ công. Trong khi đó, điện mặt trời, điện gió giá cao và phụ thuộc vào yếu tố thời tiết. Trong thời gian tới, nếu được Chính phủ phê duyệt, EVN sẽ triển khai nhập khẩu điện tại Lào và Trung Quốc, đồng thời nghiên cứu địa điểm Trung tâm điện khí tại Mỹ Giang - Vân Phong - Khánh Hòa.

3. NGÀNH KHOÁNG SẢN

Dầu mỏ:

Ngày 18/1, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) công bố mục tiêu giảm sản lượng dầu đối với từng thành viên và các nước đồng minh trong 6 tháng đầu năm 2019 nhằm kích thích tâm lý lạc quan trên thị trường dầu. Mục tiêu giảm sản lượng dầu cho 6 tháng đầu năm 2019 là 1,195 triệu thùng, đưa tổng sản lượng dầu về 43,874 triệu thùng/ngày. Sau đó, OPEC+ sẽ họp lại vào ngày 17-18/4 tại Vienna để quyết định xem có tiếp tục kéo dài thỏa thuận hay không.

Ngân hàng Barclays hạ dự báo giá dầu Brent trong quý I từ 71 USD/thùng xuống 65 USD/thùng, trong quý II từ 75 USD/thùng xuống 73 USD/thùng, trung bình năm 2019 đạt 70 USD/thùng, thấp hơn 2 USD so với dự báo ban đầu. Dầu thô có nhiều nguy cơ giảm giá do những vấn đề liên quan tới nhu cầu và nguồn cung dư thừa tại Mỹ hơn là tăng giá nhờ thỏa thuận giảm sản lượng của OPEC. Ngày 28/1, giá dầu Brent tương lai đứng ở mức 59,93 USD/thùng, dầu WTI đạt 51,99 USD/thùng.

Việt Nam đưa vào khai thác mỏ dầu Cá Tầm, sản lượng ban đầu đạt 1.630 tấn (hơn 230 thùng)/ngày đêm. Việc khai thác mỏ Cá Tầm sẽ đem lại hiệu quả kinh tế đến hết năm 2032, góp vào ngân sách hơn 1 tỷ USD. Mỏ này cũng dự kiến đem lại lợi nhuận cho Vietsovpetro 238 triệu USD, PVEP 130 triệu USD và BITEXCO 65 triệu USD.  

Trong kỳ điều chỉnh ngày 16/1, Liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định giữ giá xăng không đổi so với lần điều chỉnh trước. Hiện tại, giá xăng đã ở mức đáy hơn một năm, lần lượt là 16.272 đồng/lít và 17.603 đồng/lít với E5RON92 và RON95-III. Liên Bộ quyết định điều chỉnh cả mức trích lập và mức chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu do giá thành phẩm xăng dầu thế giới từ đầu năm 2019 đến nay có xu hướng tăng.

Than:

Năm 2019, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đặt mục tiêu sản xuất 40 triệu tấn than, tăng 3 triệu tấn so với 2018, đáp ứng đủ cho nhu cầu phát điện trong nước. Đồng thời, tiến hành nhập khẩu than, dự tính trên 4 triệu tấn để pha trộn, chế biến, đảm bảo cung cấp đủ than theo hợp đồng mua bán đã ký kết với khách hàng.

3. NGÀNH SẮT THÉP

Giá quặng sắt chạm đỉnh hơn 10 tháng trước vào ngày 17/1 khi thị trường kỳ vọng Mỹ và Trung Quốc sớm đạt được thỏa thuận thương mại. Ngoài ra, giá than mỡ và than cốc lần lượt tăng 0,8% và 1,6%. Đầu vào tăng mạnh khiến giá thép thanh giao tháng 5 tại Thượng Hải tăng 2,3% lên 3.633 nhân dân tệ/tấn và ghi nhận tuần tăng thứ 6 trong 7 tuần gần nhất. Trước tình trạng giá vật liệu thô tăng mạnh, giá thép tại thị trường Việt Nam cũng được các công ty sản xuất lớn như Hòa Phát, Việt Đức tăng nhẹ 200-250 đồng/kg từ giữa tháng 1/2019.

Ống thép hàn carbon của Việt Nam có thể chịu thuế khi vào Canada. Biên độ phá giá dành cho các nhà sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam tham gia trả lời bản câu hỏi điều tra là 3 - 26,1%, của các nhà sản xuất, xuất khẩu khác là 54,2%. Canada sẽ tiếp tục điều tra về vấn đề thiệt hại của ngành sản xuất trong nước, trường hợp kết luận tồn tại thiệt hại, Canada sẽ ban hành lệnh áp thuế vào 15/2.

Ba nhóm thép của Việt Nam xuất khẩu sang EU sẽ bị áp hạn ngạch từ tháng 2/2019 tới tháng 7/2021, nếu vượt hạn ngạch cho phép, thép nhập vào sẽ bị áp thuế 25%. Hạn ngạch nhập khẩu thép sẽ là khối lượng nhập khẩu trung bình của 3 năm gần nhất cộng thêm 5%. Ba nhóm sản phẩm nằm trong diện bị áp thuế gồm thép cán nguội hợp kim và không hợp kim (hạn ngạch nhập khẩu là 1.318.865 tấn), thép tấm mạ kim loại (hạn ngạch 2.115.054 tấn), thép không gỉ cán nguội dạng tấm và thanh (hạn ngạch 476.161 tấn). Trong năm 2018, kim ngạch xuất khẩu thép và sản phẩm thép của Việt Nam sang thị trường EU đạt hơn 1,7 tỷ USD, chiếm 22,7% tổng xuất khẩu mặt hàng này đi các thị trường.

Miễn trừ áp dụng biện pháp tự vệ với hơn 32.000 tấn tôn màu nhập khẩu trong năm 2019. Sau khi xem xét các hồ sơ đề nghị miễn trừ áp dụng biện pháp tự vệ đối với tôn màu nhập khẩu chất lượng cao phục vụ sản xuất cho năm 2019, Bộ Công Thương quyết định miễn trừ cho 11 doanh nghiệp nhập khẩu tôn màu. Công ty TNHH Điện lạnh Hòa Phát, Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam và Chi nhánh Công ty TNHH Panasonic Việt Nam tại Hưng Yên, Công ty TNHH LG Electronics Việt Nam Hải Phòng là 3 công ty có lượng tôn màu được cấp miễn trừ thuế tự vệ lớn nhất. Các công ty được hoàn lại tiền thuế tự vệ đã nộp theo Quyết định số 1931 của Bộ Công Thương.

4. NGÀNH DỆT MAY DA GIÀY

Hiệp hội da giày Việt Nam (Lefaso) dự báo chỉ số sản xuất công nghiệp ngành da giày năm 2019 sẽ tăng 11% so với năm 2018; tổng kim ngạch xuất khẩu là 21,5 tỉ USD, xuất khẩu da giày sẽ đứng thứ 4 và xuất khẩu túi xách sẽ đứng thứ 10, trong tốp 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế. Trung Quốc tiếp tục chủ trương giảm ưu đãi đầu tư trong các lĩnh vực dệt may và da giày để tập trung cho các ngành công nghệ cao, nên các đơn hàng gia công da giày, túi xách sẽ tiếp tục xu hướng dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam, tránh tác động xấu từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung và đón đầu các Hiệp định thương mại có hiệu lực trong năm 2019.

Theo Vinatex, ngành dệt may năm 2019 sẽ thách thức hơn 2018. Tăng trưởng kinh tế các nước được dự báo giảm, chính sách tiền tệ diễn biến phức tạp, lãi suất tăng sẽ tác động không nhỏ tới ngành dệt may năm 2019. Bên cạnh đó, các đối thủ của dệt may Việt Nam như Ấn Độ, Bangladesh sẽ cải thiện các vấn đề, hỗ trợ xuất khẩu sau năm 2018 suy giảm. Tuy vậy, ngành vẫn đặt mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD năm 2019, kịch bản thấp cũng xuất khẩu trên 38 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2018. Xuất khẩu sang các nước CPTPP mới chỉ đạt 5,3 tỷ USD, trong đó thị trường truyền thống Nhật Bản đã chiếm 4 tỷ USD. Ngành dệt may phấn đấu tăng xuất khẩu 1 tỷ USD tại hai thị trường tiềm năng là Australia và Canada, mỗi nước khoảng 500 triệu USD.

LPB Research tổng hợp

Bản tin ngành hàng tháng 1/2019

BẢN TIN NGÀNH HÀNG THÁNG 1/2019

Một số thông tin chính:

Ngành Nông nghiệp:

  • Gạo: Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc năm 2019 dự kiến giảm nhưng tăng tại Phillipines, Indonesia;
  • Cao su: Giá cao su khó tăng mạnh trong năm 2019 do kinh tế thế giới và nhu cầu tiêu thụ được dự báo tăng trưởng chậm lại;
  • Thủy sản: Ngành Thủy sản sẽ hưởng lợi lớn từ việc giảm thuế theo các Hiệp định thương mại;
  • Điều: Nhiều doanh nghiệp chế biến điều Việt Nam lỗ trong năm 2018 và dự báo gặp nhiều thách thức trong năm 2019;
  • Thịt lợn: Giá lợn dự báo diễn biến khó lường trong năm 2019.

Ngành Điện: Cung không đủ đáp ứng nhu cầu, ngành điện sẽ phải đa dạng nguồn cung trong năm 2019, trong đó tính đến phương án mua điện và phát triển điện khí;

Dầu mỏ: Giá dự báo giảm trong năm 2019 bất chấp việc OPEC giảm sản lượng khai thác;

Sắt thép: Giá vật liệu thô trên thế giới tăng, trong nước một số doanh nghiệp điều chỉnh tăng nhẹ giá bán ra;

Dệt may – da giày: Ngành dệt may năm 2019 sẽ thách thức hơn 2018 nhưng dự báo kim ngạch xuất khẩu có thể đạt 40 tỷ USD

 

1. NGÀNH NÔNG NGHIỆP

Gạo: Xuất khẩu gạo năm 2019 có thể biến động mạnh giữa các thị trường tiêu thụ. Theo đó, nhu cầu nhập khẩu gạo trong quý I/2019 sẽ tăng nhẹ tại các thị trường truyền thống như Phillipines, Indonesia do hai nước này vừa bị ảnh hưởng nặng bởi thiên tai. Phillipines gỡ bỏ chính sách hạn chế nhập khẩu, đã có 166 công ty Phillipines nộp đơn xin mua 1 triệu tấn gạo, trong đó có nhiều đơn hàng gạo Việt Nam. Tuy nhiên, xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc dự báo gặp khó trong năm 2019 do nước này siết chặt nhập khẩu qua đường biên mậu và áp thuế nhập khẩu gạo nếp lên 40 - 50%. Đồng thời, Trung Quốc cũng tăng cường quản lí vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, bao bì, nhãn mác, siết chặt doanh nghiệp nhập khẩu gạo vào Trung Quốc.

Cao su: Giá cao su khó tăng mạnh trong năm 2019 do nhu cầu tiêu thụ được dự báo tăng trưởng chậm lại. Theo Hiệp hội các nước sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC), tiêu thụ cao su tự nhiên trên toàn cầu dự báo tăng 4,2% trong năm 2019, đạt 14,59 triệu tấn và thấp hơn mức tăng 5,2% của năm 2018. Tiêu thụ cao su tự nhiên tại Trung Quốc, nơi chiếm 40% tổng tiêu dùng cao su tự nhiên thế giới, dự báo chỉ tăng 3,2% trong năm 2019 lên 5,85 triệu tấn, sau khi tăng 5,3% năm 2018 và 7,5% năm 2017. Tại Ấn Độ, tiêu thụ dự báo tăng 4% trong năm 2019, thấp hơn nhiều mức tăng trưởng sơ bộ của năm 2018 là 12,6%. Trong khi đó, sản lượng cao su thế giới năm 2019 dự báo đạt 14,84 triệu tấn, gần cân bằng với mức tiêu thụ nhưng thị trường vẫn chưa thoát hẳn khỏi áp lực dư cung nếu giá cao su phục hồi đến mức hấp dẫn, sản lượng cao su của nhiều nước sẽ tăng so với dự kiến, với sản lượng cao su Thái Lan năm 2019 có thể cao hơn 14% so với dự báo; Malaysia có thể tăng 53% và Ấn Độ có thể tăng 65%.

Thủy sản: Ngành Thủy sản sẽ hưởng lợi lớn khi Hiệp định CPTPP bắt đầu có hiệu lực từ ngày 14/1, Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) đang ở năm thực thi thứ 10 và EVFTA có thể được phê chuẩn vào đầu năm 2019. Với hiệp định CPTTP, các nước Úc, Canada, Chile, New Zealand xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu với tất cả sản phẩm thủy sản ngay khi CPTPP có hiệu lực. Mexico sẽ giảm thuế một số sản phẩm thủy sản từ 10-20% về 0% ngay lập tức, tuy nhiên, một số sản phẩm cá như cá hồi, cá rô phi, cá thu, cá giò, cá kiếm, tôm... được giảm thuế theo lộ trình 5-10 năm. Ngay khi EVFTA có hiệu lực, khoảng 50% số dòng thuế đối với sản phẩm thủy sản sẽ giảm về 0%, 50% số dòng thuế còn lại sẽ được xóa bỏ dần trong 3-7 năm tiếp theo. Riêng cá ngừ đóng hộp và surimi, EU dành cho Việt Nam có hạn ngạch thuế quan lần lượt là 11.500 tấn và 500 tấn. Theo hiệp định VJEPA, đến năm 2019, Nhật Bản hoàn thành lộ trình cắt giảm thuế về 0% đối với 100% hàng thủy sản của Việt Nam.

Điều: Nhiều doanh nghiệp chế biến điều Việt Nam lại lỗ mặc dù xuất khẩu điều đạt kỷ lục 3,52 tỉ USD. Năm 2018 ngành điều gặp nhiều khó khăn khi: (i) Hàng trăm tấn điều thô nhập khẩu về Việt Nam phải nằm chờ tại cảng và kho ngoại quan do chất lượng xấu hơn mọi năm; (ii) Giữa năm 2018, giá điều nhân thế giới xuống thấp trong khi giá nguyên liệu đứng ở mức cao khiến rủi ro trong chế biến điều tăng nên các ngân hàng siết chặt cho vay tín chấp nhập khẩu điều thô, nhất là với các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp mới tham gia thị trường; (iii) Tình trạng nhiều doanh nghiệp ký hợp đồng mua nguyên liệu điều và đã đặt cọc nhưng lại hủy hợp đồng, bỏ tiền cọc để cắt lỗ. Năm 2019, tiêu thụ dự báo không tăng đột biến, trong khi nguồn cung tăng. Mỹ là thị trường nhập khẩu điều nhân lớn nhất của Việt Nam (32%) và họ đang chờ giá rẻ hơn để mua vào. Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung khiến cho hạt hạnh nhân (cùng phân khúc cạnh tranh với hạt điều nhưng giá rẻ hơn) khó xuất khẩu sang thị trường chính là Trung Quốc buộc phải bán ra ở thị trường Mỹ.

Thịt lợn: Giá lợn dự báo diễn biến khó lường trong năm 2019 do rủi ro dịch tả lợn châu Phi (ASF) từ Trung Quốc xâm nhiễm và lượng thịt lợn nhập khẩu gia tăng khi Việt Nam gia nhập CPTPP. Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) dự báo sản lượng thịt lợn toàn cầu tăng 1% lên 114,6 triệu tấn, với sự gia tăng đàn lợn tại Trung Quốc và Hoa Kỳ, trong khi nhu cầu thịt lợn ở hầu hết quốc gia tăng. Xuất khẩu thịt lợn toàn cầu dự báo sẽ tăng gần 3% trong năm 2019 nhờ nhu cầu mạnh. EU vẫn là nhà xuất khẩu hàng đầu vì nhu cầu tăng cao ở châu Á, đặc biệt là Trung Quốc.

2. NGÀNH ĐIỆN

Ngành điện đang phải đối mặt với hàng loạt khó khăn, thách thức lớn nhất là nguy cơ thiếu điện do nhu cầu điện dự báo tiếp tục tăng trưởng cao nhưng hệ thống điện hầu như không có dự phòng nguồn điện. Ở Việt Nam, thuỷ điện hiện có công suất 20.000 MW, đến năm 2030 chỉ còn đóng góp 13 - 16% trong tổng cung nên không có khả năng tăng nữa. Trong ngắn hạn, hồ thuỷ điện sẽ thiếu nước, thậm chí tình trạng này dự báo sẽ kéo dài sang năm tới và có thể còn nghiêm trọng hơn. Trong khi đó, điện hạt nhân không có, phải bù bằng nhiệt điện, bao gồm cả nhiệt điện khí và than. Tuy nhiên, cung cấp than cho nhà máy điện đang khó khăn, trong khi nguồn khí để cung cấp cho các nhà máy điện đã giảm. Nhiều dự án nhiệt điện khí và than triển khai chậm, nhà đầu tư trong nước không đủ nguồn lực triển khai. Mỗi dự án điện từ 600 MW trở lên cần ít nhất 1 tỷ USD, EVN và Petro Vietnam đều đang rất khó khăn vì để đầu tư phải vay vốn bảo lãnh – điều này không được hoan nghênh vì ảnh hưởng đến trần nợ công. Trong khi đó, điện mặt trời, điện gió giá cao và phụ thuộc vào yếu tố thời tiết. Trong thời gian tới, nếu được Chính phủ phê duyệt, EVN sẽ triển khai nhập khẩu điện tại Lào và Trung Quốc, đồng thời nghiên cứu địa điểm Trung tâm điện khí tại Mỹ Giang - Vân Phong - Khánh Hòa.

3. NGÀNH KHOÁNG SẢN

Dầu mỏ:

Ngày 18/1, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) công bố mục tiêu giảm sản lượng dầu đối với từng thành viên và các nước đồng minh trong 6 tháng đầu năm 2019 nhằm kích thích tâm lý lạc quan trên thị trường dầu. Mục tiêu giảm sản lượng dầu cho 6 tháng đầu năm 2019 là 1,195 triệu thùng, đưa tổng sản lượng dầu về 43,874 triệu thùng/ngày. Sau đó, OPEC+ sẽ họp lại vào ngày 17-18/4 tại Vienna để quyết định xem có tiếp tục kéo dài thỏa thuận hay không.

Ngân hàng Barclays hạ dự báo giá dầu Brent trong quý I từ 71 USD/thùng xuống 65 USD/thùng, trong quý II từ 75 USD/thùng xuống 73 USD/thùng, trung bình năm 2019 đạt 70 USD/thùng, thấp hơn 2 USD so với dự báo ban đầu. Dầu thô có nhiều nguy cơ giảm giá do những vấn đề liên quan tới nhu cầu và nguồn cung dư thừa tại Mỹ hơn là tăng giá nhờ thỏa thuận giảm sản lượng của OPEC. Ngày 28/1, giá dầu Brent tương lai đứng ở mức 59,93 USD/thùng, dầu WTI đạt 51,99 USD/thùng.

Việt Nam đưa vào khai thác mỏ dầu Cá Tầm, sản lượng ban đầu đạt 1.630 tấn (hơn 230 thùng)/ngày đêm. Việc khai thác mỏ Cá Tầm sẽ đem lại hiệu quả kinh tế đến hết năm 2032, góp vào ngân sách hơn 1 tỷ USD. Mỏ này cũng dự kiến đem lại lợi nhuận cho Vietsovpetro 238 triệu USD, PVEP 130 triệu USD và BITEXCO 65 triệu USD.  

Trong kỳ điều chỉnh ngày 16/1, Liên Bộ Công Thương - Tài chính quyết định giữ giá xăng không đổi so với lần điều chỉnh trước. Hiện tại, giá xăng đã ở mức đáy hơn một năm, lần lượt là 16.272 đồng/lít và 17.603 đồng/lít với E5RON92 và RON95-III. Liên Bộ quyết định điều chỉnh cả mức trích lập và mức chi sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu do giá thành phẩm xăng dầu thế giới từ đầu năm 2019 đến nay có xu hướng tăng.

Than:

Năm 2019, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đặt mục tiêu sản xuất 40 triệu tấn than, tăng 3 triệu tấn so với 2018, đáp ứng đủ cho nhu cầu phát điện trong nước. Đồng thời, tiến hành nhập khẩu than, dự tính trên 4 triệu tấn để pha trộn, chế biến, đảm bảo cung cấp đủ than theo hợp đồng mua bán đã ký kết với khách hàng.

3. NGÀNH SẮT THÉP

Giá quặng sắt chạm đỉnh hơn 10 tháng trước vào ngày 17/1 khi thị trường kỳ vọng Mỹ và Trung Quốc sớm đạt được thỏa thuận thương mại. Ngoài ra, giá than mỡ và than cốc lần lượt tăng 0,8% và 1,6%. Đầu vào tăng mạnh khiến giá thép thanh giao tháng 5 tại Thượng Hải tăng 2,3% lên 3.633 nhân dân tệ/tấn và ghi nhận tuần tăng thứ 6 trong 7 tuần gần nhất. Trước tình trạng giá vật liệu thô tăng mạnh, giá thép tại thị trường Việt Nam cũng được các công ty sản xuất lớn như Hòa Phát, Việt Đức tăng nhẹ 200-250 đồng/kg từ giữa tháng 1/2019.

Ống thép hàn carbon của Việt Nam có thể chịu thuế khi vào Canada. Biên độ phá giá dành cho các nhà sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam tham gia trả lời bản câu hỏi điều tra là 3 - 26,1%, của các nhà sản xuất, xuất khẩu khác là 54,2%. Canada sẽ tiếp tục điều tra về vấn đề thiệt hại của ngành sản xuất trong nước, trường hợp kết luận tồn tại thiệt hại, Canada sẽ ban hành lệnh áp thuế vào 15/2.

Ba nhóm thép của Việt Nam xuất khẩu sang EU sẽ bị áp hạn ngạch từ tháng 2/2019 tới tháng 7/2021, nếu vượt hạn ngạch cho phép, thép nhập vào sẽ bị áp thuế 25%. Hạn ngạch nhập khẩu thép sẽ là khối lượng nhập khẩu trung bình của 3 năm gần nhất cộng thêm 5%. Ba nhóm sản phẩm nằm trong diện bị áp thuế gồm thép cán nguội hợp kim và không hợp kim (hạn ngạch nhập khẩu là 1.318.865 tấn), thép tấm mạ kim loại (hạn ngạch 2.115.054 tấn), thép không gỉ cán nguội dạng tấm và thanh (hạn ngạch 476.161 tấn). Trong năm 2018, kim ngạch xuất khẩu thép và sản phẩm thép của Việt Nam sang thị trường EU đạt hơn 1,7 tỷ USD, chiếm 22,7% tổng xuất khẩu mặt hàng này đi các thị trường.

Miễn trừ áp dụng biện pháp tự vệ với hơn 32.000 tấn tôn màu nhập khẩu trong năm 2019. Sau khi xem xét các hồ sơ đề nghị miễn trừ áp dụng biện pháp tự vệ đối với tôn màu nhập khẩu chất lượng cao phục vụ sản xuất cho năm 2019, Bộ Công Thương quyết định miễn trừ cho 11 doanh nghiệp nhập khẩu tôn màu. Công ty TNHH Điện lạnh Hòa Phát, Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam và Chi nhánh Công ty TNHH Panasonic Việt Nam tại Hưng Yên, Công ty TNHH LG Electronics Việt Nam Hải Phòng là 3 công ty có lượng tôn màu được cấp miễn trừ thuế tự vệ lớn nhất. Các công ty được hoàn lại tiền thuế tự vệ đã nộp theo Quyết định số 1931 của Bộ Công Thương.

4. NGÀNH DỆT MAY DA GIÀY

Hiệp hội da giày Việt Nam (Lefaso) dự báo chỉ số sản xuất công nghiệp ngành da giày năm 2019 sẽ tăng 11% so với năm 2018; tổng kim ngạch xuất khẩu là 21,5 tỉ USD, xuất khẩu da giày sẽ đứng thứ 4 và xuất khẩu túi xách sẽ đứng thứ 10, trong tốp 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nền kinh tế. Trung Quốc tiếp tục chủ trương giảm ưu đãi đầu tư trong các lĩnh vực dệt may và da giày để tập trung cho các ngành công nghệ cao, nên các đơn hàng gia công da giày, túi xách sẽ tiếp tục xu hướng dịch chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam, tránh tác động xấu từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung và đón đầu các Hiệp định thương mại có hiệu lực trong năm 2019.

Theo Vinatex, ngành dệt may năm 2019 sẽ thách thức hơn 2018. Tăng trưởng kinh tế các nước được dự báo giảm, chính sách tiền tệ diễn biến phức tạp, lãi suất tăng sẽ tác động không nhỏ tới ngành dệt may năm 2019. Bên cạnh đó, các đối thủ của dệt may Việt Nam như Ấn Độ, Bangladesh sẽ cải thiện các vấn đề, hỗ trợ xuất khẩu sau năm 2018 suy giảm. Tuy vậy, ngành vẫn đặt mục tiêu xuất khẩu 40 tỷ USD năm 2019, kịch bản thấp cũng xuất khẩu trên 38 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2018. Xuất khẩu sang các nước CPTPP mới chỉ đạt 5,3 tỷ USD, trong đó thị trường truyền thống Nhật Bản đã chiếm 4 tỷ USD. Ngành dệt may phấn đấu tăng xuất khẩu 1 tỷ USD tại hai thị trường tiềm năng là Australia và Canada, mỗi nước khoảng 500 triệu USD.

LPB Research tổng hợp

Tin khác

Viết bình luận