Bản tin ngành hàng tháng 4/2019

Bản tin ngành hàng tháng 4/2019

26/04/2019 17:27

Những tin tức chính:

  • Ngành gỗ: Xuất khẩu dự báo tăng 16-18% nửa đầu năm 2019;
  • Ngành Thủy sản: Xuất khẩu tôm quý 1 tiếp tục giảm mạnh; Xuất khẩu cá tra tăng tích cực, tuy nhiên nhiều khả năng giảm trong quý 2;
  • Ngành Vật liệu xây dựng: Tiêu thụ thép thế giới sẽ tăng chậm lại từ năm 2019; Tiêu thụ thép trong nước quý 1 giữ ổn định;
  • Ngành Nông nghiệp: Quý 1/2019, giá hàng loạt nông sản xuất khẩu chủ lực lao dốc khiến kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng âm sau nhiều năm;
  • Ngành Ô tô: Tiêu thụ tích cực, lượng ô tô nhập khẩu quý 1/2019 đã bằng nửa năm 2018.

​1. Ngành gỗ

Xuất khẩu gỗ Việt Nam dự báo tăng 16-18% nửa đầu 2019

Giá trị xuất khẩu gỗ quý 1/2019 đạt 2,27 tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm ngoái, nhờ nhu cầu lớn từ các thị trường xuất khẩu chính. Xuất khẩu sang Mỹ - thị trường tiêu thụ lớn nhất của đồ gỗ Việt Nam tăng 34% so với cùng kỳ năm ngoái, với giá trị đạt hơn 1 tỷ USD, đưa thị phần của thị trường này tăng lên 45,4%. Xuất khẩu sang Nhật Bản – thị trường đang có lợi thế nhờ hiệp định CPTPP tăng 15,2% và đạt hơn 305 triệu USD. Nhiều doanh nghiệp gỗ trong nước đã có đơn hàng đến hết năm 2019 và đều ghi nhận mức tăng trưởng mạnh so với năm ngoái. Với đà tăng trưởng hiện nay và nhiều yếu tố hỗ trợ, Bộ Công Thương dự báo xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ nửa đầu năm 2019 sẽ tăng từ 16 – 18% so với cùng kỳ năm ngoái.

Bộ Công Thương điều tra bán phá giá ván sợi gỗ nhập từ Thái Lan, Malaysia

Quyết định được đưa ra dựa trên yêu cầu của 4 doanh nghiệp đại diện cho ngành sản xuất ván gỗ công nghiệp Việt Nam, gồm CTCP Gỗ MDF VRG Kiên Giang, CTCP Gỗ MDF VRG Dongwha, CTCP Gỗ MDF VRG Quảng Trị và CTCP Kim Tín MDF. Các doanh nghiệp này cáo buộc các sản phẩm ván gỗ công nghiệp nhập khẩu từ Thái Lan và Malaysia đã và đang bán phá giá vào thị trường Việt Nam với biên độ phá giá từ 18,59-50,6%. Hành vi bán phá giá được khẳng định đã gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất ván gỗ công nghiệp trong nước. Các mặt hàng này hiện được hưởng mức thuế ưu đãi là 8%, và khi hiệp định ATIGA có hiệu lực, thuế sẽ giảm về 0%.

2. Ngành thủy sản

Xuất khẩu tôm quý 1 tiếp tục giảm mạnh

Xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 617,6 triệu USD trong 3 tháng đầu năm 2019, giảm 16,9% so với cùng kỳ năm ngoái, theo số liệu của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản (VASEP). Nguyên nhân là do: (i) tồn kho tại các thị trường tiêu thụ vẫn còn, trong khi nguồn cung tại các nước xuất khẩu tiếp tục tăng; (ii) giá chào bán của Việt Nam đang ở mức cao, kém cạnh tranh so với các nước đối thủ do giá thành sản xuất và yếu tố đầu vào tăng. Hiệp định CPTPP đang mang lại kết quả khả quan khi 2 thị trường tiêu thụ là Nhật Bản và Canada tăng tích cực. Nhật Bản hiện là thị trường tiêu thụ lớn thứ 2 của tôm Việt, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 121,7 triệu USD, tăng 1,4%. Xuất khẩu sang Canada cũng tăng 4,6% và đạt trên 29 triệu USD. Theo dự báo của VASEP, dù có lợi thế về CPTPP và thuế chống bán phá giá sơ bộ tại Mỹ thấp, xuất khẩu tôm Việt Nam trong tháng 4 vẫn chưa thể tăng, nhưng tốc độ giảm sẽ thấp hơn.

Đầu tháng 4, Bộ Thương mại Mỹ công bố mức thuế chống bán phá giá sơ bộ cho tôm Việt trong giai đoạn xem xét hành chính lần thứ 13 là 0% đối với 31 doanh nghiệp. Theo VASEP, dù chưa phải là kết quả chính thức, đây vẫn được xem là nền tảng để tôm Việt giành được mức thuế thấp nhất ở phán quyết cuối cùng vào tháng 9. Hiệp hội kỳ vọng xuất khẩu tôm sang Mỹ sẽ phục hồi trong các tháng tới.

Xuất khẩu cá tra quý 1 tăng tích cực, tuy nhiên có thể giảm trong quý 2

Xuất khẩu cá tra quý 1/2019 đạt 483 triệu USD, tăng khoảng 10,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong tháng 2, giá cá tra nguyên liệu khá ổn định, duy trì ở mức cao 28.500-30.000 đồng/kg. Tuy nhiên, đến tháng 3, giá có xu hướng giảm do thị trường xuất khẩu gặp khó khăn. Giá cá tra nguyên liệu loại 1 (800 - 900g/con) ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện còn 24.000 - 25.000 đồng/kg, giảm khoảng 3.000 đồng, tương đương giảm 11%, so với tháng trước. Tính cả quý 1, giá cá tra giảm khoảng 16%. Ngoài yếu tố nhu cầu giảm, nguồn cung tăng mạnh cũng là nguyên nhân khiến giá cá tra nguyên liệu hạ nhiệt. Bộ Nông nghiệp ước tính sản lượng cá tra cả nước trong quý 1 đạt 273.178 tấn, tăng 13,8% so với cùng kỳ 2018 do diện tích thả nuôi mở rộng từ cuối năm 2018 đến nay đã cho thu hoạch, sản lượng cá tra tăng mạnh ở phần lớn tỉnh, thành

Mỹ tăng thuế chống bán phá giá với cá tra Việt Nam

Bộ Thương mại Mỹ (DOC) vừa công bố kết quả cuối cùng của kỳ xem xét hành chính lần thứ 14 (POR14) thuế chống bán phá giá cá tra Việt Nam, trong giai đoạn từ 1/8/2016 đến 31/7/2017, với mức thuế tăng hơn so với kết quả sơ bộ được công bố trước đó. Mức thuế cuối cùng kỳ POR14 áp cho Công ty cổ phần thủy sản Hùng Vương là 3,87 USD/kg; Công ty cổ phần thủy sản Biển Đông và Tập đoàn thủy sản Vĩnh Hoàn lần lượt chịu mức thuế là 0,19 và 0 USD/kg. Trong khi đó, có 5 đơn vị chịu mức thuế 1,37 USD/kg, gồm NTSF Seafoods Joint Stock Company; C.P Vietnam Corporation; Cuu Long Fish Joint Stock Company; Green Farms Seafood Joint Stock Company và Vinh Quang Fisheries Corporation.

3. Ngành Vật liệu xây dựng

Tiêu thụ thép thế giới sẽ tăng chậm lại từ năm 2019

Tăng trưởng tiêu thụ thép toàn cầu sẽ giảm xuống 1,3% trong năm 2019, từ mức 2,1% của năm ngoái. Con số này tiếp tục xuống 1% trong năm tới, theo dự đoán của Hiệp hội Thép Thế giới. Cụ thể, thế giới sẽ tiêu thụ 1,735 tỷ tấn thép trong năm nay và 1,752 tỷ tấn thép trong năm 2020. Một trong những nguyên nhân chính là kinh tế Trung Quốc, nước tiêu thụ khoảng một nửa sản lượng thép của thế giới, có dấu hiệu giảm tốc dù chính phủ giữ chủ trương tăng trưởng dựa trên tiêu dùng. Ngoài ra, cuộc chiến thương mại dai dẳng giữa nước này và Mỹ cũng ảnh hưởng tới tâm lý đầu tư.

Tiêu thụ thép tăng trong nước quý 1

Tính chung 3 tháng đầu năm 2019, sản lượng sản xuất sắt thép thô, thép cán tăng lần lượt là 64,8% và 6,1% so với cùng kỳ năm trước; riêng thép thanh, thép góc giảm 0,5%. Về xuất khẩu, kim ngạch trong quý 1 đạt 744 triệu USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ. Theo nhận định của Bộ Công Thương, ngành thép năm 2019 dự kiến sẽ tăng trưởng tốt, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Trong đó, động lực là dự án thép Formosa Hà Tĩnh năm 2019 sẽ đi vào vận hành 2 lò cao hết công suất, đạt công suất 7,5 triệu tấn/năm. Năm 2018, dự án này mới huy động khoảng 4,5 triệu tấn. Một dự án khác là Thép Hòa Phát Dung Quất cũng có kế hoạch đi vào vận hành trong năm 2019. Theo đó, lò cao số 1 sẽ đi vào sản xuất trong tháng 6/2019, lò cao số 2 từ tháng 9/2019 và lò cao số 3 từ tháng 12/2019. Dự tính, nếu huy động hết công suất sẽ sản xuất khoảng 2 triệu tấn thép. Do đó, dự kiến mức tăng sản lượng thép các loại năm 2019 khoảng 10% so với năm 2018.

Thép cuộn cán nguội của Việt Nam bị điều tra chống bán phá giá tại Malaysia

Cuối tháng 3, Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp Malaysia (MITI) quyết định điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm thép cuộn cán nguội không hợp kim nhập khẩu từ Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. MITI cho biết thời hạn để trả lời bản câu hỏi điều tra cũng như cung cấp quan điểm về vụ việc là30 ngày kể từ ngày đăng công báo. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 2 tháng đầu năm nay, Việt Nam xuất khẩu 116.355 tấn sắt thép sang Malaysia, chiếm gần 9,5% tổng xuất khẩu mặt hàng này đi các thị trường. Mỗi tấn sắt thép xuất sang thị trường này trung bình có giá khoảng 607 USD, giảm 14% so với cùng kỳ năm ngoái.

Xi măng tăng tiêu thụ nội địa, giảm xuất khẩu trong tháng 4

Tiêu thụ sản phẩm xi măng trong tháng 4 ước đạt khoảng 9,18 triệu tấn, tương đương với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, tiêu thụ trong nước ước đạt khoảng 6,48 triệu tấn, tăng 430.000 tấn so với tháng trước và tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái. Ngược lại, khối lượng xi măng xuất khẩu đi các thị trường trong tháng 4 lại giảm 700.000 tấn so với tháng trước và giảm 2% so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng tiêu thụ 4 tháng đầu năm 2019 ở thị trường trong nước và xuất khẩu đạt khoảng 35,45 triệu tấn sản phẩm xi măng, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2018. Hiệp hội Xi măng Việt Nam cho biết năm 2019 dự kiến có 2 dây chuyền sản xuất xi măng với tổng công suất 4,1 triệu tấn được đưa vào vận hành, gồm Xi măng Nam Đông (Thừa Thiên - Huế) với công suất 1,8 triệu tấn/năm và Xi măng Thành Thắng 3 (Hà Nam) với công suất 2,3 triệu tấn/năm.

Đến năm 2020, Hiệp hội dự kiến có thêm 5 dây chuyền xi măng khác với tổng công suất 12,7 triệu tấn đưa vào vận hành. Như vậy, cả nước sẽ có 89 dây chuyền sản xuất xi măng với tổng công suất khoảng 115 triệu tấn tính đến năm 2020.

4. Ngành nông nghiệp

Quý 1/2019, giá hàng loạt nông sản xuất khẩu chủ lực lao dốc khiến kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng âm sau nhiều năm

Ba tháng đầu năm, lĩnh vực nông nghiệp xuất khẩu được 8,8 tỉ USD, giảm gần 3% so với cùng kỳ năm 2018. Nguyên nhân là do giá nhiều mặt hàng xuất khẩu sụt giảm mạnh. Có đến 4 mặt hàng nông sản xuất khẩu mà tỷ lệ giá giảm đến hai con số so với cùng kỳ năm trước. Dẫn đầu danh sách này là giá tiêu với mức giảm đến 27% nên dù lượng xuất khẩu tăng đến 19% nhưng giá trị vẫn giảm gần 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Đứng ngay sau tiêu là giá điều với mức giảm đến gần 21% so với cùng kỳ năm 2018, mức giá xuất khẩu bình quân hạt điều đạt mức 8.043 USD/tấn. Xuất khẩu hạt điều tăng gần 5% về lượng nhưng giảm đến trên 17% về giá trị. Gạo đứng thứ 3 với mức giảm gần 18%, chỉ còn 404 USD/tấn khiến kim ngạch giảm trên 20% so với cùng kỳ năm 2018 dù lượng chỉ giảm có 3,5%. Giá cà phê xuất khẩu cũng sụt giảm đến trên 14%, hiện chỉ còn 4.894 USD/tấn, tổng giá trị xuất khẩu cà phê giảm gần 24%, dù lượng giảm 15,3%. Ngoài lý do khách quan là xu thế chung của thế giới thì phần lớn những mặt hàng này nông sản này đã tăng mạnh diện tích và sản lượng trong thời gian qua.

Ngành mía đường đang đối mặt với khó khăn khắc nghiệt nhất từ trước đến nay

Niên vụ mía đường 2018 -2019 là năm thứ 3 liên tiếp, ngành mía đường chịu sự tác động tiêu cực của khí hậu thời tiết, giá cả, thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, trong niên vụ 2017-2018, kết quả kinh doanh giảm sút, nhiều nhà máy đường, công ty mía đường thua lỗ. Đến ngày 15/3/2019, có 36 nhà máy đường đang hoạt động, ép được gần 8 triệu tấn mía, sản xuất được 750 ngàn tấn đường các loại. Ngoài ra, các nhà máy tinh luyện được khoảng 150 ngàn tấn đường từ nguyên liệu đường thô nhập khẩu. Tình hình tiêu thụ đường rất chậm do tồn kho vụ trước nhiều và hiện còn tồn khoảng 75%. Giá đường có cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp, giá bán phổ biến đường kính trắng RS khoảng 10.500 đồng/kg. Tại các tỉnh Miền Trung - Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long, năng suất, sản lượng mía, sản lượng đường giảm nghiêm trọng, tương ứng là 13%, 22% và 23%. Ngoài ra, tình hình buôn lậu chưa giảm, đường lỏng nhập khẩu gia tăng khiến tình hình tiêu thụ trong nước gặp khó. Năm 2014 nhập 46.000 tấn thì đến 2018 tăng hơn 3 lần, đạt khoảng 140.000 tấn đường lỏng. Biến đổi khí hậu ngày một khắc nghiệt, áp lực từ Hiệp định ATIGA có hiệu lực từ 1/1/2020 cũng làm khó ngành mía đường trong nước.

Thị trường cao su đón tín hiệu tích cực 

Giá cao su kỳ hạn tại Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan có xu hướng phục hồi từ đầu tháng 4. Tại Nhật Bản, giá giao tháng 5 trên sàn giao dịch hàng hóa TOCOM hiện là 186,6 yên/kg (tương đương 1,67 USD/kg), tăng 8% so với cuối tháng trước. Tại Trung Quốc, giá cao su thiên nhiên giao tháng 5 chốt phiên 17/4 giao dịch ở 11.410 nhân dân tệ/tấn (tương đương khoảng 1,7 USD/kg), tăng 0,1%. Giá cao su RSS3 tại Thái Lan cũng tăng 1,8% so với cuối tháng 3 và chốt phiên 17/4 được chào bán ở 54,07 baht/kg (tương đương 1,7 USD/kg). Tương tự, tại thị trường trong nước, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước, Tây Ninh, Đắk Lắk tăng nhẹ trong 10 ngày đầu tháng 4. Giá xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 4 bình quân đạt 1.420 USD/tấn, tăng từ mức 1.395 USD/tấn của tháng trước. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, khối lượng xuất khẩu cao su tính đến nửa đầu tháng 4 đạt gần 379.000 tấn, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá trị xuất khẩu cũng tăng 16,2% và đạt hơn 504 triệu USD.

Ba lực đẩy cho thị trường cao su gồm: (i) Nguồn cung cao su được dự báo giảm khi Indonesia, Malaysia và Thái Lan, 3 quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới, bắt đầu thực hiện kế hoạch hạn chế xuất khẩu; (ii) giá dầu trên thị trường thế giới tăng; (iii) sự cải thiện của kinh tế Trung Quốc, tiến triển trong đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc cũng xoa dịu lo ngại nhu cầu tiêu thụ cao su sẽ suy yếu.

5. Ngành ô tô

 

Lượng ô tô nhập khẩu quý 1/2019 đã bằng nửa năm 2018

Trong quý I, Việt Nam đã nhập khẩu tới 39 nghìn ô tô nguyên chiếc các loại, gần bằng 1/2 lượng nhập khẩu của cả năm 2018. Không chỉ tăng mạnh về số lượng, giá trị kim ngạch nhập khẩu ô tô nguyên chiếc giai đoạn này cũng tăng gấp đến 7,5 lần, đạt 883 triệu USD. Giá bình quân các loại ôtô nhập khẩu về Việt Nam đã giảm đáng kể. Cụ thể, mức giá nhập khẩu ô tô bình quân 412 triệu đồng/chiếc trong tháng 3, thấp hơn mức đầu năm là 461 triệu đồng/xe, rẻ hơn 100 triệu đồng/chiếc so với đầu năm 2018. Hiện tượng giá ô tô nhập khẩu giảm trong giai đoạn đầu năm ngay được cho là xuất phát chủ yếu từ việc các doanh nghiệp tập trung đưa về Việt Nam các dòng xe có giá trị thấp, xe cỡ nhỏ và xe phổ thông. Các loại ô tô hạng sang có giá trị cao chỉ được nhập khẩu với số lượng nhỏ. Lượng ô tô nhập khẩu về nước tăng mạnh trong khi giá trị xe nhập khẩu giảm đáng giúp thị trường ô tô giải bớt cơn khát ô tô đã kéo dài từ năm ngoái.

LPB Research tổng hợp.

Bản tin ngành hàng tháng 4/2019

Những tin tức chính:

  • Ngành gỗ: Xuất khẩu dự báo tăng 16-18% nửa đầu năm 2019;
  • Ngành Thủy sản: Xuất khẩu tôm quý 1 tiếp tục giảm mạnh; Xuất khẩu cá tra tăng tích cực, tuy nhiên nhiều khả năng giảm trong quý 2;
  • Ngành Vật liệu xây dựng: Tiêu thụ thép thế giới sẽ tăng chậm lại từ năm 2019; Tiêu thụ thép trong nước quý 1 giữ ổn định;
  • Ngành Nông nghiệp: Quý 1/2019, giá hàng loạt nông sản xuất khẩu chủ lực lao dốc khiến kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng âm sau nhiều năm;
  • Ngành Ô tô: Tiêu thụ tích cực, lượng ô tô nhập khẩu quý 1/2019 đã bằng nửa năm 2018.

​1. Ngành gỗ

Xuất khẩu gỗ Việt Nam dự báo tăng 16-18% nửa đầu 2019

Giá trị xuất khẩu gỗ quý 1/2019 đạt 2,27 tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm ngoái, nhờ nhu cầu lớn từ các thị trường xuất khẩu chính. Xuất khẩu sang Mỹ - thị trường tiêu thụ lớn nhất của đồ gỗ Việt Nam tăng 34% so với cùng kỳ năm ngoái, với giá trị đạt hơn 1 tỷ USD, đưa thị phần của thị trường này tăng lên 45,4%. Xuất khẩu sang Nhật Bản – thị trường đang có lợi thế nhờ hiệp định CPTPP tăng 15,2% và đạt hơn 305 triệu USD. Nhiều doanh nghiệp gỗ trong nước đã có đơn hàng đến hết năm 2019 và đều ghi nhận mức tăng trưởng mạnh so với năm ngoái. Với đà tăng trưởng hiện nay và nhiều yếu tố hỗ trợ, Bộ Công Thương dự báo xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ nửa đầu năm 2019 sẽ tăng từ 16 – 18% so với cùng kỳ năm ngoái.

Bộ Công Thương điều tra bán phá giá ván sợi gỗ nhập từ Thái Lan, Malaysia

Quyết định được đưa ra dựa trên yêu cầu của 4 doanh nghiệp đại diện cho ngành sản xuất ván gỗ công nghiệp Việt Nam, gồm CTCP Gỗ MDF VRG Kiên Giang, CTCP Gỗ MDF VRG Dongwha, CTCP Gỗ MDF VRG Quảng Trị và CTCP Kim Tín MDF. Các doanh nghiệp này cáo buộc các sản phẩm ván gỗ công nghiệp nhập khẩu từ Thái Lan và Malaysia đã và đang bán phá giá vào thị trường Việt Nam với biên độ phá giá từ 18,59-50,6%. Hành vi bán phá giá được khẳng định đã gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất ván gỗ công nghiệp trong nước. Các mặt hàng này hiện được hưởng mức thuế ưu đãi là 8%, và khi hiệp định ATIGA có hiệu lực, thuế sẽ giảm về 0%.

2. Ngành thủy sản

Xuất khẩu tôm quý 1 tiếp tục giảm mạnh

Xuất khẩu tôm của Việt Nam đạt 617,6 triệu USD trong 3 tháng đầu năm 2019, giảm 16,9% so với cùng kỳ năm ngoái, theo số liệu của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản (VASEP). Nguyên nhân là do: (i) tồn kho tại các thị trường tiêu thụ vẫn còn, trong khi nguồn cung tại các nước xuất khẩu tiếp tục tăng; (ii) giá chào bán của Việt Nam đang ở mức cao, kém cạnh tranh so với các nước đối thủ do giá thành sản xuất và yếu tố đầu vào tăng. Hiệp định CPTPP đang mang lại kết quả khả quan khi 2 thị trường tiêu thụ là Nhật Bản và Canada tăng tích cực. Nhật Bản hiện là thị trường tiêu thụ lớn thứ 2 của tôm Việt, với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 121,7 triệu USD, tăng 1,4%. Xuất khẩu sang Canada cũng tăng 4,6% và đạt trên 29 triệu USD. Theo dự báo của VASEP, dù có lợi thế về CPTPP và thuế chống bán phá giá sơ bộ tại Mỹ thấp, xuất khẩu tôm Việt Nam trong tháng 4 vẫn chưa thể tăng, nhưng tốc độ giảm sẽ thấp hơn.

Đầu tháng 4, Bộ Thương mại Mỹ công bố mức thuế chống bán phá giá sơ bộ cho tôm Việt trong giai đoạn xem xét hành chính lần thứ 13 là 0% đối với 31 doanh nghiệp. Theo VASEP, dù chưa phải là kết quả chính thức, đây vẫn được xem là nền tảng để tôm Việt giành được mức thuế thấp nhất ở phán quyết cuối cùng vào tháng 9. Hiệp hội kỳ vọng xuất khẩu tôm sang Mỹ sẽ phục hồi trong các tháng tới.

Xuất khẩu cá tra quý 1 tăng tích cực, tuy nhiên có thể giảm trong quý 2

Xuất khẩu cá tra quý 1/2019 đạt 483 triệu USD, tăng khoảng 10,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong tháng 2, giá cá tra nguyên liệu khá ổn định, duy trì ở mức cao 28.500-30.000 đồng/kg. Tuy nhiên, đến tháng 3, giá có xu hướng giảm do thị trường xuất khẩu gặp khó khăn. Giá cá tra nguyên liệu loại 1 (800 - 900g/con) ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện còn 24.000 - 25.000 đồng/kg, giảm khoảng 3.000 đồng, tương đương giảm 11%, so với tháng trước. Tính cả quý 1, giá cá tra giảm khoảng 16%. Ngoài yếu tố nhu cầu giảm, nguồn cung tăng mạnh cũng là nguyên nhân khiến giá cá tra nguyên liệu hạ nhiệt. Bộ Nông nghiệp ước tính sản lượng cá tra cả nước trong quý 1 đạt 273.178 tấn, tăng 13,8% so với cùng kỳ 2018 do diện tích thả nuôi mở rộng từ cuối năm 2018 đến nay đã cho thu hoạch, sản lượng cá tra tăng mạnh ở phần lớn tỉnh, thành

Mỹ tăng thuế chống bán phá giá với cá tra Việt Nam

Bộ Thương mại Mỹ (DOC) vừa công bố kết quả cuối cùng của kỳ xem xét hành chính lần thứ 14 (POR14) thuế chống bán phá giá cá tra Việt Nam, trong giai đoạn từ 1/8/2016 đến 31/7/2017, với mức thuế tăng hơn so với kết quả sơ bộ được công bố trước đó. Mức thuế cuối cùng kỳ POR14 áp cho Công ty cổ phần thủy sản Hùng Vương là 3,87 USD/kg; Công ty cổ phần thủy sản Biển Đông và Tập đoàn thủy sản Vĩnh Hoàn lần lượt chịu mức thuế là 0,19 và 0 USD/kg. Trong khi đó, có 5 đơn vị chịu mức thuế 1,37 USD/kg, gồm NTSF Seafoods Joint Stock Company; C.P Vietnam Corporation; Cuu Long Fish Joint Stock Company; Green Farms Seafood Joint Stock Company và Vinh Quang Fisheries Corporation.

3. Ngành Vật liệu xây dựng

Tiêu thụ thép thế giới sẽ tăng chậm lại từ năm 2019

Tăng trưởng tiêu thụ thép toàn cầu sẽ giảm xuống 1,3% trong năm 2019, từ mức 2,1% của năm ngoái. Con số này tiếp tục xuống 1% trong năm tới, theo dự đoán của Hiệp hội Thép Thế giới. Cụ thể, thế giới sẽ tiêu thụ 1,735 tỷ tấn thép trong năm nay và 1,752 tỷ tấn thép trong năm 2020. Một trong những nguyên nhân chính là kinh tế Trung Quốc, nước tiêu thụ khoảng một nửa sản lượng thép của thế giới, có dấu hiệu giảm tốc dù chính phủ giữ chủ trương tăng trưởng dựa trên tiêu dùng. Ngoài ra, cuộc chiến thương mại dai dẳng giữa nước này và Mỹ cũng ảnh hưởng tới tâm lý đầu tư.

Tiêu thụ thép tăng trong nước quý 1

Tính chung 3 tháng đầu năm 2019, sản lượng sản xuất sắt thép thô, thép cán tăng lần lượt là 64,8% và 6,1% so với cùng kỳ năm trước; riêng thép thanh, thép góc giảm 0,5%. Về xuất khẩu, kim ngạch trong quý 1 đạt 744 triệu USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ. Theo nhận định của Bộ Công Thương, ngành thép năm 2019 dự kiến sẽ tăng trưởng tốt, đóng góp tích cực vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Trong đó, động lực là dự án thép Formosa Hà Tĩnh năm 2019 sẽ đi vào vận hành 2 lò cao hết công suất, đạt công suất 7,5 triệu tấn/năm. Năm 2018, dự án này mới huy động khoảng 4,5 triệu tấn. Một dự án khác là Thép Hòa Phát Dung Quất cũng có kế hoạch đi vào vận hành trong năm 2019. Theo đó, lò cao số 1 sẽ đi vào sản xuất trong tháng 6/2019, lò cao số 2 từ tháng 9/2019 và lò cao số 3 từ tháng 12/2019. Dự tính, nếu huy động hết công suất sẽ sản xuất khoảng 2 triệu tấn thép. Do đó, dự kiến mức tăng sản lượng thép các loại năm 2019 khoảng 10% so với năm 2018.

Thép cuộn cán nguội của Việt Nam bị điều tra chống bán phá giá tại Malaysia

Cuối tháng 3, Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp Malaysia (MITI) quyết định điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm thép cuộn cán nguội không hợp kim nhập khẩu từ Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. MITI cho biết thời hạn để trả lời bản câu hỏi điều tra cũng như cung cấp quan điểm về vụ việc là30 ngày kể từ ngày đăng công báo. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 2 tháng đầu năm nay, Việt Nam xuất khẩu 116.355 tấn sắt thép sang Malaysia, chiếm gần 9,5% tổng xuất khẩu mặt hàng này đi các thị trường. Mỗi tấn sắt thép xuất sang thị trường này trung bình có giá khoảng 607 USD, giảm 14% so với cùng kỳ năm ngoái.

Xi măng tăng tiêu thụ nội địa, giảm xuất khẩu trong tháng 4

Tiêu thụ sản phẩm xi măng trong tháng 4 ước đạt khoảng 9,18 triệu tấn, tương đương với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, tiêu thụ trong nước ước đạt khoảng 6,48 triệu tấn, tăng 430.000 tấn so với tháng trước và tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái. Ngược lại, khối lượng xi măng xuất khẩu đi các thị trường trong tháng 4 lại giảm 700.000 tấn so với tháng trước và giảm 2% so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng tiêu thụ 4 tháng đầu năm 2019 ở thị trường trong nước và xuất khẩu đạt khoảng 35,45 triệu tấn sản phẩm xi măng, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2018. Hiệp hội Xi măng Việt Nam cho biết năm 2019 dự kiến có 2 dây chuyền sản xuất xi măng với tổng công suất 4,1 triệu tấn được đưa vào vận hành, gồm Xi măng Nam Đông (Thừa Thiên - Huế) với công suất 1,8 triệu tấn/năm và Xi măng Thành Thắng 3 (Hà Nam) với công suất 2,3 triệu tấn/năm.

Đến năm 2020, Hiệp hội dự kiến có thêm 5 dây chuyền xi măng khác với tổng công suất 12,7 triệu tấn đưa vào vận hành. Như vậy, cả nước sẽ có 89 dây chuyền sản xuất xi măng với tổng công suất khoảng 115 triệu tấn tính đến năm 2020.

4. Ngành nông nghiệp

Quý 1/2019, giá hàng loạt nông sản xuất khẩu chủ lực lao dốc khiến kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng âm sau nhiều năm

Ba tháng đầu năm, lĩnh vực nông nghiệp xuất khẩu được 8,8 tỉ USD, giảm gần 3% so với cùng kỳ năm 2018. Nguyên nhân là do giá nhiều mặt hàng xuất khẩu sụt giảm mạnh. Có đến 4 mặt hàng nông sản xuất khẩu mà tỷ lệ giá giảm đến hai con số so với cùng kỳ năm trước. Dẫn đầu danh sách này là giá tiêu với mức giảm đến 27% nên dù lượng xuất khẩu tăng đến 19% nhưng giá trị vẫn giảm gần 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Đứng ngay sau tiêu là giá điều với mức giảm đến gần 21% so với cùng kỳ năm 2018, mức giá xuất khẩu bình quân hạt điều đạt mức 8.043 USD/tấn. Xuất khẩu hạt điều tăng gần 5% về lượng nhưng giảm đến trên 17% về giá trị. Gạo đứng thứ 3 với mức giảm gần 18%, chỉ còn 404 USD/tấn khiến kim ngạch giảm trên 20% so với cùng kỳ năm 2018 dù lượng chỉ giảm có 3,5%. Giá cà phê xuất khẩu cũng sụt giảm đến trên 14%, hiện chỉ còn 4.894 USD/tấn, tổng giá trị xuất khẩu cà phê giảm gần 24%, dù lượng giảm 15,3%. Ngoài lý do khách quan là xu thế chung của thế giới thì phần lớn những mặt hàng này nông sản này đã tăng mạnh diện tích và sản lượng trong thời gian qua.

Ngành mía đường đang đối mặt với khó khăn khắc nghiệt nhất từ trước đến nay

Niên vụ mía đường 2018 -2019 là năm thứ 3 liên tiếp, ngành mía đường chịu sự tác động tiêu cực của khí hậu thời tiết, giá cả, thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, trong niên vụ 2017-2018, kết quả kinh doanh giảm sút, nhiều nhà máy đường, công ty mía đường thua lỗ. Đến ngày 15/3/2019, có 36 nhà máy đường đang hoạt động, ép được gần 8 triệu tấn mía, sản xuất được 750 ngàn tấn đường các loại. Ngoài ra, các nhà máy tinh luyện được khoảng 150 ngàn tấn đường từ nguyên liệu đường thô nhập khẩu. Tình hình tiêu thụ đường rất chậm do tồn kho vụ trước nhiều và hiện còn tồn khoảng 75%. Giá đường có cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp, giá bán phổ biến đường kính trắng RS khoảng 10.500 đồng/kg. Tại các tỉnh Miền Trung - Tây Nguyên và Đồng bằng Sông Cửu Long, năng suất, sản lượng mía, sản lượng đường giảm nghiêm trọng, tương ứng là 13%, 22% và 23%. Ngoài ra, tình hình buôn lậu chưa giảm, đường lỏng nhập khẩu gia tăng khiến tình hình tiêu thụ trong nước gặp khó. Năm 2014 nhập 46.000 tấn thì đến 2018 tăng hơn 3 lần, đạt khoảng 140.000 tấn đường lỏng. Biến đổi khí hậu ngày một khắc nghiệt, áp lực từ Hiệp định ATIGA có hiệu lực từ 1/1/2020 cũng làm khó ngành mía đường trong nước.

Thị trường cao su đón tín hiệu tích cực 

Giá cao su kỳ hạn tại Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan có xu hướng phục hồi từ đầu tháng 4. Tại Nhật Bản, giá giao tháng 5 trên sàn giao dịch hàng hóa TOCOM hiện là 186,6 yên/kg (tương đương 1,67 USD/kg), tăng 8% so với cuối tháng trước. Tại Trung Quốc, giá cao su thiên nhiên giao tháng 5 chốt phiên 17/4 giao dịch ở 11.410 nhân dân tệ/tấn (tương đương khoảng 1,7 USD/kg), tăng 0,1%. Giá cao su RSS3 tại Thái Lan cũng tăng 1,8% so với cuối tháng 3 và chốt phiên 17/4 được chào bán ở 54,07 baht/kg (tương đương 1,7 USD/kg). Tương tự, tại thị trường trong nước, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước, Tây Ninh, Đắk Lắk tăng nhẹ trong 10 ngày đầu tháng 4. Giá xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 4 bình quân đạt 1.420 USD/tấn, tăng từ mức 1.395 USD/tấn của tháng trước. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, khối lượng xuất khẩu cao su tính đến nửa đầu tháng 4 đạt gần 379.000 tấn, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá trị xuất khẩu cũng tăng 16,2% và đạt hơn 504 triệu USD.

Ba lực đẩy cho thị trường cao su gồm: (i) Nguồn cung cao su được dự báo giảm khi Indonesia, Malaysia và Thái Lan, 3 quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới, bắt đầu thực hiện kế hoạch hạn chế xuất khẩu; (ii) giá dầu trên thị trường thế giới tăng; (iii) sự cải thiện của kinh tế Trung Quốc, tiến triển trong đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc cũng xoa dịu lo ngại nhu cầu tiêu thụ cao su sẽ suy yếu.

5. Ngành ô tô

 

Lượng ô tô nhập khẩu quý 1/2019 đã bằng nửa năm 2018

Trong quý I, Việt Nam đã nhập khẩu tới 39 nghìn ô tô nguyên chiếc các loại, gần bằng 1/2 lượng nhập khẩu của cả năm 2018. Không chỉ tăng mạnh về số lượng, giá trị kim ngạch nhập khẩu ô tô nguyên chiếc giai đoạn này cũng tăng gấp đến 7,5 lần, đạt 883 triệu USD. Giá bình quân các loại ôtô nhập khẩu về Việt Nam đã giảm đáng kể. Cụ thể, mức giá nhập khẩu ô tô bình quân 412 triệu đồng/chiếc trong tháng 3, thấp hơn mức đầu năm là 461 triệu đồng/xe, rẻ hơn 100 triệu đồng/chiếc so với đầu năm 2018. Hiện tượng giá ô tô nhập khẩu giảm trong giai đoạn đầu năm ngay được cho là xuất phát chủ yếu từ việc các doanh nghiệp tập trung đưa về Việt Nam các dòng xe có giá trị thấp, xe cỡ nhỏ và xe phổ thông. Các loại ô tô hạng sang có giá trị cao chỉ được nhập khẩu với số lượng nhỏ. Lượng ô tô nhập khẩu về nước tăng mạnh trong khi giá trị xe nhập khẩu giảm đáng giúp thị trường ô tô giải bớt cơn khát ô tô đã kéo dài từ năm ngoái.

LPB Research tổng hợp.

Tin khác

Viết bình luận