Bản tin tài chính tuần 1 tháng 11/2018

Bản tin tài chính tuần 1 tháng 11/2018

BẢN TIN TÀI CHÍNH TUẦN 1 THÁNG 11/2018

Nợ xấu bán sang VAMC bắt đầu trở về các NHTM

Moody's điều chỉnh triển vọng hệ thống ngân hàng Việt Nam từ "tích cực" sang "ổn định"

1. KINH TẾ THẾ GIỚI

Giá dầu thị trường Mỹ giảm liên tiếp do cầu tiêu thụ yếu và sản lượng dầu tăng

Giá dầu thế giới đã sụt giảm liên tiếp trong 5 tuần, dưới sức ép của đợt bán tháo tài sản rủi ro trên toàn cầu trong tháng 10, những dấu hiệu cho thấy nhu cầu tiêu thụ dầu yếu đi, và sản lượng dầu tăng từ các nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới.

Trong tuần có thời điểm giá dầu WTI xuống còn 60,4 USD/thùng thấp nhất từ đầu năm đến nay, giá chốt phiên 8/11 là 60,67 USD/thùng giảm 21% so với đầu tháng 10. Giá xăng giao sau tại thị trường Mỹ hiện cũng đang ở trong trạng thái thị trường giá xuống, giảm gần 28% so với mức đỉnh 52 tuần.

Nguyên nhân dầu thô rơi vào thị trường giá xuống là do: (1) sản lượng dầu thô Mỹ đạt kỷ lục 11,6 triệu thùng/ngày trong tuần trước, Saudi Arabia và Nga cũng đang nâng sản lượng; (2) các chuyên gia dự báo cắt giảm tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ dầu mặc dù nhập khẩu dầu thô từ Trung Quốc đạt mức kỷ lục 9,61 triệu thùng/ngày trong tháng 10.

Trước bối cảnh giá dầu giảm sâu, Saudi Arabia và Nga có thể đề nghị một nhóm gồm 12 nước sản xuất dầu cắt giảm sản lượng, ủy ban OPEC cũng có thể đề xuất cắt giảm sản lượng trong cuộc họp toàn khối vào tháng 12.

Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung tạo áp lực mạnh với lĩnh vực chế biến chế tạo Châu Á

Theo thống kê của Nikkei – HIS Markit, các chỉ số phản ánh tình trạng hoạt động của khu vực chế tạo tại nhiều quốc gia châu Á có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu, trong đó có Trung Quốc, đã yếu đi trong tháng 10/2018.

Cụ thể, chỉ số nhà quản lý mua hàng lĩnh vực chế biến chế tạo (PMI) Trung Quốc trong tháng 10 ở mức 50,2 điểm; PMI Hàn Quốc giảm từ 51,3 điểm trong tháng 9/2018 xuống 51 điểm trong tháng 10; PMI tại Malaysia và Thái Lan đã giảm xuống dưới mức 50 điểm - ngưỡng phân định giữa chiều hướng tăng trưởng và sụt giảm của hoạt động sản xuất đây là mức PMI thấp nhất của Malaysia kể từ tháng 7 và là mức thấp nhất của Thái Lan trong vòng hai năm trở lại đây. Đài Loan cũng chứng kiến hoạt động sản xuất sụt giảm lần đầu tiên kể từ tháng 5/2016 và các doanh nghiệp trong ngành dự kiến sản lượng tiếp tục đi xuống trong 12 tháng tới.

Nguyên nhân theo đánh giá là do nhiều quốc gia đang phát triển và mới nổi nằm trong chuỗi mắt xích dây chuyền sản xuất của khu vực thương mại tự do, chuyên cung cấp linh kiện cho các mặt hàng của Trung Quốc xuất sang Mỹ.

Theo đánh giá của Ngân hàng phát triển Singapore (DBS) và nghiên cứu của tổ chức Societe Generale, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan và Singapore sẽ là các nền kinh tế gặp rủi ro cao nhất tại châu Á do các nước này có độ mở thương mại cao và tham gia nhiều vào chuỗi cung ứng linh kiện cho Trung Quốc.

Nhật Bản và Việt Nam ít chịu tác động từ cuộc chiến thương mại mặc dù cũng phụ thuộc vào xuất khẩu do Việt Nam đang nằm ở cuối chuỗi cung ứng giá trị trong khi Nhật Bản có sự đa dạng hóa sản xuất trong khắp khu vực châu Á.

Thị trường nhà ở Hong Kong có dấu hiệu suy thoái

Dấu hiệu của một cuộc suy thoái trên thị trường nhà ở tại Hồng Kông đang lan rộng sau khi lãi suất của thành phố tăng lần đầu tiên trong 12 năm và sự leo thang của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung.

Từ đầu năm 2018 đến nay, giá nhà ở tại Hong Kong đã giảm khoảng 3%, trong khi giá nhà giảm 13% trong giai đoạn suy thoái 2015-2016. Theo số liệu của Cơ quan quản lý tiền tệ Hong Kong, số lượng đơn vay mua nhà thế chấp tháng 9 giảm nhiều nhất trong vòng 20 tháng. Số lượng giao dịch nhà hạng sang trong tháng 9 cũng ở mức thấp nhất kể từ năm 2005. Giá trị giao dịch nhà mới trong tháng 10 chỉ đạt 12,5 tỷ HKD giảm xuống mức thấp nhất trong 6 tháng, số lượng giao dịch giảm 43% so với tháng trước xuống còn 1.140 giao dịch.

2. KINH TẾ VIỆT NAM

Quốc hội thông qua kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2019

Với 447/450 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 92,16%), sáng 8/11, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019. Theo đó, mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2019 sẽ tăng từ 6,6 - 6,8%, tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 4%, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 7-8%, tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3%, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 33-34% GDP.

Trong đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, chỉ tiêu tăng GDP năm 2019 đã được tính toán trên cơ sở GDP ước thực hiện của năm 2018 đạt và vượt mức 6,7%. Qua dự báo và các cân đối lớn của nền kinh tế cũng như tham khảo đánh giá của một số tổ chức quốc tế, Chính phủ báo cáo Quốc hội mức tăng GDP 6,6 - 6,8% cho năm 2019 là bảo đảm tính thận trọng, hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng và kiềm chế lạm phát, tiếp tục tạo nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô và giải quyết các vấn đề xã hội.

Nghị quyết của Quốc hội cũng đề nghị hoàn thiện các điều kiện cần thiết và xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật để thực hiện Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); đẩy mạnh vận động sớm ký kết và phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).

Thủ tướng phê duyệt Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2018-2020, tầm nhìn 2021-2025

Đối với giai đoạn 2018-2020, Chính phủ chỉ đạo tập trung xử lý các vướng mắc, thúc đẩy giải ngân và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đã được ký kết; tiếp tục lựa chọn và chuẩn bị các dự án đầu tư công tốt (dựa trên hiệu quả kinh tế - xã hội, tài chính), sẽ giải ngân sau 2020 để đảm bảo sự liên tục, không bị sụt giảm đột ngột vốn đầu tư phát triển giai đoạn sau 2020.

Theo định hướng của Chính phủ, chỉ sử dụng vốn vay nước ngoài cho các lĩnh vực/dự án mà vốn đầu tư công trong nước chưa đáp ứng được, khu vực tư nhân không có động lực để đầu tư do không có lợi nhuận hoặc một số lĩnh vực đặc thù cần Nhà nước đầu tư để kiểm soát và quản lý giá nhằm tạo thuận lợi phát triển các ngành kinh tế khác như cảng sông, cảng biển… Khuyến khích tư nhân tham gia cùng nhà nước đầu tư giải quyết các điểm nghẽn về cơ sở hạ tầng.

Đối với một số chương trình, dự án quan trọng cần ưu tiên và không có khả năng tạo nguồn thu để trả nợ hoặc thuộc diện cấp phát khác, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định sử dụng vốn vay ưu đãi đối với từng trường hợp cụ thể.

Đối với giai đoạn 2021-2025, sử dụng vốn vay nước ngoài tập trung cho một số lĩnh vực chủ chốt để đảm bảo phát huy được tối đa hiệu quả kinh tế theo quy mô. Cần có quá trình thẩm định, đánh giá chặt chẽ, khách quan, minh bạch thông qua xây dựng bộ tiêu chí đánh giá, lựa chọn dự án theo chuẩn mực quốc tế, phù hợp với thực tế Việt Nam.

Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh casino, chứng khoán

Nghị định 151/2018/NĐ-CP ban hành ngày 26/12/2017 sửa đổi, bổ sung điều kiện kinh doanh trong 5 lĩnh vực gồm Xổ số, trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài, dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, casino, đặt cược; Kinh doanh chứng khoán; Kinh doanh bảo hiểm; Thẩm định giá; Kế toán, kiểm toán và dịch vụ quản lý quỹ hưu trí tự nguyện.

Theo đó, doanh nghiệp chỉ được xem xét cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng khi đã đăng ký kinh doanh ngành, nghề kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng theo quy định của Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp và đáp ứng đủ điều kiện quy định.

Về vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán tại Việt Nam, điều kiện về vốn pháp định cho nghiệp vụ tự doanh chứng khoán giảm từ 100 tỷ đồng xuống còn 50 tỷ đồng. Công ty chứng khoán được cung cấp dịch vụ giao dịch trong ngày cho khách hàng sau khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận trên cơ sở đáp ứng tỷ lệ vốn khả dụng đạt tối thiểu 220% liên tục trong 6 tháng gần nhất (quy định cũ 12 tháng gần nhất) tính đến thời điểm đăng ký cung cấp dịch vụ giao dịch trong ngày. Ngoài ra, Nghị định số 151/2018/NĐ-CP cũng cắt giảm hai điều kiện đối với công ty chứng khoán thực hiện giao dịch ký quỹ.

3. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Nợ xấu bán sang VAMC bắt đầu trở về các NHTM

Theo cơ chế mua nợ xấu, VAMC phát hành trái phiếu đặc biệt cho các tổ chức tín dụng bán nợ, có kỳ hạn 5 năm. Đến nay là thời điểm tròn 5 năm đã trôi qua, trái phiếu đó lần lượt đáo hạn, các tổ chức tín dụng nhận lại những khoản nợ xấu đã bán sang VAMC nếu vẫn không xử lý được.

Tính từ tháng 10/2013 đến 31/12/2017, VAMC đã mua tổng dư nợ gốc nội bảng là trên 307.930 tỷ, giá mua nợ là 277.755 tỷ đồng. Từ năm 2018 công ty này đã hạn chế mua thêm, chuyển dần sang mua theo giá thị trường.

VAMC đặt mục tiêu xử lý tối thiểu 140.000 tỷ đồng nợ xấu đã mua vào năm 2022; kế hoạch của năm 2018 là xử lý 34.504 tỷ đồng dư nợ gốc; đã thu hồi 30.641 tỷ đồng trong năm 2017; đã bán 865 khoản nợ với giá 6.472 tỷ đồng và 4.865 tỷ đồng tài sản đảm bảo…

Ngày 7/11 vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành văn bản số 8425/NHNN-TTGSNH cầu các TCTD triển khai nghiêm túc, quyết liệt, có hiệu quả các nhiệm vụ nêu tại Chỉ thị số 05/CT-NHNN ngày 17/9/2018 về tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu. Từ thời điểm này và dự báo nợ xấu sẽ có chiều hướng tăng lên, dần thể hiện trên báo cáo tài chính nhiều tổ chức tín dụng quý 4 tới.

Moody's điều chỉnh triển vọng hệ thống ngân hàng Việt Nam từ "tích cực" sang "ổn định"

Hãng xếp hạng tín nhiệm Moody's vừa công bố báo cáo "Triển vọng Hệ thống Ngân hàng Việt Nam: Tăng trưởng kinh tế và chất lượng tài sản ngày càng cải thiện hỗ trợ cho triển vọng ổn định". Theo đó Moody's đã thay đổi triển vọng 12-18 tháng tới của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ “tích cực” sang “ổn định” dựa trên 6 tiêu chí về môi trường hoạt động, rủi ro tài sản, vốn, thanh khoản, lợi nhuận và sự hỗ trợ của chính phủ.

Với môi trường hoạt động, Moody’s cho rằng tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ ở Việt Nam sẽ hỗ trợ cho môi trường hoạt động của hệ thống ngân hàng. Moody’s kỳ vọng tăng trưởng GDP thực của Việt Nam vẫn sẽ là một trong những nước cao nhất trong khu vực Asean với mức 6,7% năm 2018 và 6,5% năm 2019 nhờ vào khả năng cạnh tranh, xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.

Tăng trưởng tín dụng sẽ ở vào khoảng 16% năm nay, thấp hơn mức 20% năm 2017, khi chính phủ muốn kiểm soát lạm phát dưới 4%.

Về chất lượng tài sản, Moody’s cho rằng các ngân hàng Việt Nam sẽ sớm cải thiện chất lượng tài sản trong 12-18 tháng tới, mặc dù vậy rủi ro tài sản vẫn còn rõ rệt sau nhiều năm tăng trưởng tín dụng nhanh, các tác động tiêu cực từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung sẽ khiến Việt Nam dễ bị tác động bởi đà giảm tốc của hoạt động thương mại.

Moody’s cho rằng chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục hỗ trợ các ngân hàng khi cần thiết, chủ yếu dưới hình thức hỗ trợ thanh khoản và giãn nợ từ NHNN.

Lãi suất được dự báo ổn định

Theo đánh giá tại Báo cáo Thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam tháng 10/2018 của SSI, lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng sau một thời gian tương đối bình ổn đã tăng lên trên 4,5%, lãi suất qua đêm tăng mạnh nhất đạt đỉnh 4,533% tăng 1,93% so với cuối tháng 9 chủ yếu do thanh khoản của các ngân hàng đang trở nên eo hẹp hơn. Mặc dù lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có dao động, nhưng biến động không quá lớn, mà chỉ diễn ra theo chu kỳ bởi các ngân hàng chủ động quản lý thanh khoản và NHNN kịp thời có các biện pháp can thiệp thị trường (NHNN đã cho vay OMO trong tháng 10 lên tới 44.544 tỷ đồng, cao nhất từ đầu năm 2018 đến nay).

Ngoài ra, thời gian gần đây nhiều doanh nghiệp chuyển sang vay tiền đồng hơn do lo ngại tỷ giá tăng, khiến nhu cầu tiền đồng càng tăng cao hơn, hỗ trợ cho việc ổn định lãi suất VND. Hiện tỷ giá vẫn đang chịu nhiều áp lực do đồng USD trên thế giới đang có xu hướng tăng cao trước kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất thêm 1 lần nữa vào cuối năm và 3 lần trong năm 2019.

LPB Research tổng hợp

Bản tin tài chính tuần 1 tháng 11/2018

BẢN TIN TÀI CHÍNH TUẦN 1 THÁNG 11/2018

Nợ xấu bán sang VAMC bắt đầu trở về các NHTM

Moody's điều chỉnh triển vọng hệ thống ngân hàng Việt Nam từ "tích cực" sang "ổn định"

1. KINH TẾ THẾ GIỚI

Giá dầu thị trường Mỹ giảm liên tiếp do cầu tiêu thụ yếu và sản lượng dầu tăng

Giá dầu thế giới đã sụt giảm liên tiếp trong 5 tuần, dưới sức ép của đợt bán tháo tài sản rủi ro trên toàn cầu trong tháng 10, những dấu hiệu cho thấy nhu cầu tiêu thụ dầu yếu đi, và sản lượng dầu tăng từ các nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới.

Trong tuần có thời điểm giá dầu WTI xuống còn 60,4 USD/thùng thấp nhất từ đầu năm đến nay, giá chốt phiên 8/11 là 60,67 USD/thùng giảm 21% so với đầu tháng 10. Giá xăng giao sau tại thị trường Mỹ hiện cũng đang ở trong trạng thái thị trường giá xuống, giảm gần 28% so với mức đỉnh 52 tuần.

Nguyên nhân dầu thô rơi vào thị trường giá xuống là do: (1) sản lượng dầu thô Mỹ đạt kỷ lục 11,6 triệu thùng/ngày trong tuần trước, Saudi Arabia và Nga cũng đang nâng sản lượng; (2) các chuyên gia dự báo cắt giảm tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ dầu mặc dù nhập khẩu dầu thô từ Trung Quốc đạt mức kỷ lục 9,61 triệu thùng/ngày trong tháng 10.

Trước bối cảnh giá dầu giảm sâu, Saudi Arabia và Nga có thể đề nghị một nhóm gồm 12 nước sản xuất dầu cắt giảm sản lượng, ủy ban OPEC cũng có thể đề xuất cắt giảm sản lượng trong cuộc họp toàn khối vào tháng 12.

Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung tạo áp lực mạnh với lĩnh vực chế biến chế tạo Châu Á

Theo thống kê của Nikkei – HIS Markit, các chỉ số phản ánh tình trạng hoạt động của khu vực chế tạo tại nhiều quốc gia châu Á có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu, trong đó có Trung Quốc, đã yếu đi trong tháng 10/2018.

Cụ thể, chỉ số nhà quản lý mua hàng lĩnh vực chế biến chế tạo (PMI) Trung Quốc trong tháng 10 ở mức 50,2 điểm; PMI Hàn Quốc giảm từ 51,3 điểm trong tháng 9/2018 xuống 51 điểm trong tháng 10; PMI tại Malaysia và Thái Lan đã giảm xuống dưới mức 50 điểm - ngưỡng phân định giữa chiều hướng tăng trưởng và sụt giảm của hoạt động sản xuất đây là mức PMI thấp nhất của Malaysia kể từ tháng 7 và là mức thấp nhất của Thái Lan trong vòng hai năm trở lại đây. Đài Loan cũng chứng kiến hoạt động sản xuất sụt giảm lần đầu tiên kể từ tháng 5/2016 và các doanh nghiệp trong ngành dự kiến sản lượng tiếp tục đi xuống trong 12 tháng tới.

Nguyên nhân theo đánh giá là do nhiều quốc gia đang phát triển và mới nổi nằm trong chuỗi mắt xích dây chuyền sản xuất của khu vực thương mại tự do, chuyên cung cấp linh kiện cho các mặt hàng của Trung Quốc xuất sang Mỹ.

Theo đánh giá của Ngân hàng phát triển Singapore (DBS) và nghiên cứu của tổ chức Societe Generale, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan và Singapore sẽ là các nền kinh tế gặp rủi ro cao nhất tại châu Á do các nước này có độ mở thương mại cao và tham gia nhiều vào chuỗi cung ứng linh kiện cho Trung Quốc.

Nhật Bản và Việt Nam ít chịu tác động từ cuộc chiến thương mại mặc dù cũng phụ thuộc vào xuất khẩu do Việt Nam đang nằm ở cuối chuỗi cung ứng giá trị trong khi Nhật Bản có sự đa dạng hóa sản xuất trong khắp khu vực châu Á.

Thị trường nhà ở Hong Kong có dấu hiệu suy thoái

Dấu hiệu của một cuộc suy thoái trên thị trường nhà ở tại Hồng Kông đang lan rộng sau khi lãi suất của thành phố tăng lần đầu tiên trong 12 năm và sự leo thang của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung.

Từ đầu năm 2018 đến nay, giá nhà ở tại Hong Kong đã giảm khoảng 3%, trong khi giá nhà giảm 13% trong giai đoạn suy thoái 2015-2016. Theo số liệu của Cơ quan quản lý tiền tệ Hong Kong, số lượng đơn vay mua nhà thế chấp tháng 9 giảm nhiều nhất trong vòng 20 tháng. Số lượng giao dịch nhà hạng sang trong tháng 9 cũng ở mức thấp nhất kể từ năm 2005. Giá trị giao dịch nhà mới trong tháng 10 chỉ đạt 12,5 tỷ HKD giảm xuống mức thấp nhất trong 6 tháng, số lượng giao dịch giảm 43% so với tháng trước xuống còn 1.140 giao dịch.

2. KINH TẾ VIỆT NAM

Quốc hội thông qua kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2019

Với 447/450 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 92,16%), sáng 8/11, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019. Theo đó, mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2019 sẽ tăng từ 6,6 - 6,8%, tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 4%, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 7-8%, tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3%, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 33-34% GDP.

Trong đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, chỉ tiêu tăng GDP năm 2019 đã được tính toán trên cơ sở GDP ước thực hiện của năm 2018 đạt và vượt mức 6,7%. Qua dự báo và các cân đối lớn của nền kinh tế cũng như tham khảo đánh giá của một số tổ chức quốc tế, Chính phủ báo cáo Quốc hội mức tăng GDP 6,6 - 6,8% cho năm 2019 là bảo đảm tính thận trọng, hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng và kiềm chế lạm phát, tiếp tục tạo nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô và giải quyết các vấn đề xã hội.

Nghị quyết của Quốc hội cũng đề nghị hoàn thiện các điều kiện cần thiết và xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật để thực hiện Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); đẩy mạnh vận động sớm ký kết và phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).

Thủ tướng phê duyệt Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài giai đoạn 2018-2020, tầm nhìn 2021-2025

Đối với giai đoạn 2018-2020, Chính phủ chỉ đạo tập trung xử lý các vướng mắc, thúc đẩy giải ngân và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đã được ký kết; tiếp tục lựa chọn và chuẩn bị các dự án đầu tư công tốt (dựa trên hiệu quả kinh tế - xã hội, tài chính), sẽ giải ngân sau 2020 để đảm bảo sự liên tục, không bị sụt giảm đột ngột vốn đầu tư phát triển giai đoạn sau 2020.

Theo định hướng của Chính phủ, chỉ sử dụng vốn vay nước ngoài cho các lĩnh vực/dự án mà vốn đầu tư công trong nước chưa đáp ứng được, khu vực tư nhân không có động lực để đầu tư do không có lợi nhuận hoặc một số lĩnh vực đặc thù cần Nhà nước đầu tư để kiểm soát và quản lý giá nhằm tạo thuận lợi phát triển các ngành kinh tế khác như cảng sông, cảng biển… Khuyến khích tư nhân tham gia cùng nhà nước đầu tư giải quyết các điểm nghẽn về cơ sở hạ tầng.

Đối với một số chương trình, dự án quan trọng cần ưu tiên và không có khả năng tạo nguồn thu để trả nợ hoặc thuộc diện cấp phát khác, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định sử dụng vốn vay ưu đãi đối với từng trường hợp cụ thể.

Đối với giai đoạn 2021-2025, sử dụng vốn vay nước ngoài tập trung cho một số lĩnh vực chủ chốt để đảm bảo phát huy được tối đa hiệu quả kinh tế theo quy mô. Cần có quá trình thẩm định, đánh giá chặt chẽ, khách quan, minh bạch thông qua xây dựng bộ tiêu chí đánh giá, lựa chọn dự án theo chuẩn mực quốc tế, phù hợp với thực tế Việt Nam.

Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh casino, chứng khoán

Nghị định 151/2018/NĐ-CP ban hành ngày 26/12/2017 sửa đổi, bổ sung điều kiện kinh doanh trong 5 lĩnh vực gồm Xổ số, trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài, dịch vụ xếp hạng tín nhiệm, casino, đặt cược; Kinh doanh chứng khoán; Kinh doanh bảo hiểm; Thẩm định giá; Kế toán, kiểm toán và dịch vụ quản lý quỹ hưu trí tự nguyện.

Theo đó, doanh nghiệp chỉ được xem xét cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng khi đã đăng ký kinh doanh ngành, nghề kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng theo quy định của Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp và đáp ứng đủ điều kiện quy định.

Về vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán tại Việt Nam, điều kiện về vốn pháp định cho nghiệp vụ tự doanh chứng khoán giảm từ 100 tỷ đồng xuống còn 50 tỷ đồng. Công ty chứng khoán được cung cấp dịch vụ giao dịch trong ngày cho khách hàng sau khi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận trên cơ sở đáp ứng tỷ lệ vốn khả dụng đạt tối thiểu 220% liên tục trong 6 tháng gần nhất (quy định cũ 12 tháng gần nhất) tính đến thời điểm đăng ký cung cấp dịch vụ giao dịch trong ngày. Ngoài ra, Nghị định số 151/2018/NĐ-CP cũng cắt giảm hai điều kiện đối với công ty chứng khoán thực hiện giao dịch ký quỹ.

3. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Nợ xấu bán sang VAMC bắt đầu trở về các NHTM

Theo cơ chế mua nợ xấu, VAMC phát hành trái phiếu đặc biệt cho các tổ chức tín dụng bán nợ, có kỳ hạn 5 năm. Đến nay là thời điểm tròn 5 năm đã trôi qua, trái phiếu đó lần lượt đáo hạn, các tổ chức tín dụng nhận lại những khoản nợ xấu đã bán sang VAMC nếu vẫn không xử lý được.

Tính từ tháng 10/2013 đến 31/12/2017, VAMC đã mua tổng dư nợ gốc nội bảng là trên 307.930 tỷ, giá mua nợ là 277.755 tỷ đồng. Từ năm 2018 công ty này đã hạn chế mua thêm, chuyển dần sang mua theo giá thị trường.

VAMC đặt mục tiêu xử lý tối thiểu 140.000 tỷ đồng nợ xấu đã mua vào năm 2022; kế hoạch của năm 2018 là xử lý 34.504 tỷ đồng dư nợ gốc; đã thu hồi 30.641 tỷ đồng trong năm 2017; đã bán 865 khoản nợ với giá 6.472 tỷ đồng và 4.865 tỷ đồng tài sản đảm bảo…

Ngày 7/11 vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành văn bản số 8425/NHNN-TTGSNH cầu các TCTD triển khai nghiêm túc, quyết liệt, có hiệu quả các nhiệm vụ nêu tại Chỉ thị số 05/CT-NHNN ngày 17/9/2018 về tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu. Từ thời điểm này và dự báo nợ xấu sẽ có chiều hướng tăng lên, dần thể hiện trên báo cáo tài chính nhiều tổ chức tín dụng quý 4 tới.

Moody's điều chỉnh triển vọng hệ thống ngân hàng Việt Nam từ "tích cực" sang "ổn định"

Hãng xếp hạng tín nhiệm Moody's vừa công bố báo cáo "Triển vọng Hệ thống Ngân hàng Việt Nam: Tăng trưởng kinh tế và chất lượng tài sản ngày càng cải thiện hỗ trợ cho triển vọng ổn định". Theo đó Moody's đã thay đổi triển vọng 12-18 tháng tới của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ “tích cực” sang “ổn định” dựa trên 6 tiêu chí về môi trường hoạt động, rủi ro tài sản, vốn, thanh khoản, lợi nhuận và sự hỗ trợ của chính phủ.

Với môi trường hoạt động, Moody’s cho rằng tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ ở Việt Nam sẽ hỗ trợ cho môi trường hoạt động của hệ thống ngân hàng. Moody’s kỳ vọng tăng trưởng GDP thực của Việt Nam vẫn sẽ là một trong những nước cao nhất trong khu vực Asean với mức 6,7% năm 2018 và 6,5% năm 2019 nhờ vào khả năng cạnh tranh, xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.

Tăng trưởng tín dụng sẽ ở vào khoảng 16% năm nay, thấp hơn mức 20% năm 2017, khi chính phủ muốn kiểm soát lạm phát dưới 4%.

Về chất lượng tài sản, Moody’s cho rằng các ngân hàng Việt Nam sẽ sớm cải thiện chất lượng tài sản trong 12-18 tháng tới, mặc dù vậy rủi ro tài sản vẫn còn rõ rệt sau nhiều năm tăng trưởng tín dụng nhanh, các tác động tiêu cực từ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung sẽ khiến Việt Nam dễ bị tác động bởi đà giảm tốc của hoạt động thương mại.

Moody’s cho rằng chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục hỗ trợ các ngân hàng khi cần thiết, chủ yếu dưới hình thức hỗ trợ thanh khoản và giãn nợ từ NHNN.

Lãi suất được dự báo ổn định

Theo đánh giá tại Báo cáo Thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam tháng 10/2018 của SSI, lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng sau một thời gian tương đối bình ổn đã tăng lên trên 4,5%, lãi suất qua đêm tăng mạnh nhất đạt đỉnh 4,533% tăng 1,93% so với cuối tháng 9 chủ yếu do thanh khoản của các ngân hàng đang trở nên eo hẹp hơn. Mặc dù lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có dao động, nhưng biến động không quá lớn, mà chỉ diễn ra theo chu kỳ bởi các ngân hàng chủ động quản lý thanh khoản và NHNN kịp thời có các biện pháp can thiệp thị trường (NHNN đã cho vay OMO trong tháng 10 lên tới 44.544 tỷ đồng, cao nhất từ đầu năm 2018 đến nay).

Ngoài ra, thời gian gần đây nhiều doanh nghiệp chuyển sang vay tiền đồng hơn do lo ngại tỷ giá tăng, khiến nhu cầu tiền đồng càng tăng cao hơn, hỗ trợ cho việc ổn định lãi suất VND. Hiện tỷ giá vẫn đang chịu nhiều áp lực do đồng USD trên thế giới đang có xu hướng tăng cao trước kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất thêm 1 lần nữa vào cuối năm và 3 lần trong năm 2019.

LPB Research tổng hợp

Tin khác

Viết bình luận