Fintech và tương lai nào cho ngành ngân hàng

Fintech và tương lai nào cho ngành ngân hàng

04/12/2017 09:23

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với sự ra đời của một loạt các công nghệ mới đang tác động mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, trong đó các công nghệ như thực tế ảo (VR), Internet vạn vật (Internet of Things), in 3D, dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần được ứng dụng vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Ngành ngân hàng là một trong những lĩnh vực chứng kiến những tác động mạnh mẽ từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với sự ra đời của hàng loạt các công nghệ mới ứng dụng trong lĩnh vực tài chính hay còn gọi là Fintech. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn để duy trì các mô hình hoạt động truyền thống trước sự thay đổi công nghệ và kỳ vọng từ phía khách hàng.

Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS), Fintech được hiểu là “các sáng tạo tài chính dựa trên nền tảng công nghệ để tạo ra các mô hình kinh doanh, ứng dụng, quy trình, sản phẩm mới có tác động cụ thể đến các thị trường và định chế tài chính, cũng như trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính”. Do vậy, Fintech nhận được sự quan tâm của rất nhiều đối tượng từ các tổ chức tài chính ngân hàng, các công ty công nghệ đến giới đầu tư đặc biệt là các quỹ mạo hiểm, cơ quan quản lý Nhà nước và người tiêu dùng thông qua việc tác động tới hành vi, thói quen sử dụng sản phẩm dịch vụ của khách hàng.

Với các nhà đầu tư mạo hiểm đó là kỳ vọng vào tương lai phát triển của Fintech và hiệu quả từ các khoản đầu tư. Trong khi đó yêu cầu với cơ quan quản lý là phải có những thay đổi về khuôn khổ pháp lý, môi trường chính sách nhằm xây dựng hệ sinh thái, tạo điều kiện khuyến khích các Fintech phát triển nhưng cũng phải thiết lập các điều kiện tiêu chuẩn nhằm đảm bảo an toàn, bảo mật và quyền lợi của người tiêu dùng. Đối với hệ thống ngân hàng, sự ra đời của các công ty Fintech vừa là thách thức nhưng cũng là cơ hội đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong tương lai khi các yêu cầu về đổi mới mô hình kinh doanh, cách thức quản trị, quy trình hoạt động nhằm tạo ra các sản phẩm dịch vụ có tính ứng dụng công nghệ cao ngày càng lớn. Theo đó các ngân hàng có thể sẽ hợp tác với các công ty Fintech để cùng phát triển hoặc cạnh tranh trực tiếp với nhau và cũng không loại trừ khả năng ngân hàng sẽ không còn phù hợp và biến mất.

Tại sao sự phát triển Fintech là nguy cơ với ngân hàng

Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS), ba nhóm lĩnh vực sản phẩm dịch vụ chính mà Fintech tham gia đều có liên quan và tác động trực tiếp đến các dịch vụ ngân hàng cốt lõi là nhóm dịch vụ huy động, cho vay, nhóm dịch vụ thanh toán và nhóm dịch vụ quản lý đầu tư. Trong khi các dịch vụ hỗ trợ thị trường về cải tiến và công nghệ mới của Fintech không liên quan đến ngành tài chính cụ thể nào nhưng cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của các công ty Fintech.

Các lĩnh vực mà Fintech tham gia

Nguồn: BCBS

Hiện nay sự phát triển của Fintech mới ở trong giai đoạn đầu nên việc đánh giá tác động đối với các ngân hàng và các mô hình kinh doanh của ngân hàng là không chắc chắn. Về định lượng, một số chuyên gia ước tính khoảng 10-40% doanh thu và 20-60% lợi nhuận của ngân hàng bán lẻ bị Fintech đe dọa trong vòng 10 năm tới trong khi một số quan điểm khác cho rằng các ngân hàng có thể thâu tóm được các đối thủ cạnh tranh mới này bằng tiềm lực của mình.

Dù thế nào thì sự phát triển của Fintech cũng đem lại nhiều cơ hội cho người dùng và cả nền kinh tế như: tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính tới mọi người dân, cá nhân hóa các dịch vụ ngân hàng để phục vụ tốt hơn với chi phí giao dịch thấp hơn, có thể giao dịch trong thời gian thực (real time), tăng tính cạnh tranh và hiệu quả của việc giám sát thông qua sự hợp tác chéo giữa các ngành, các nước.

Năm viễn cảnh của ngành ngân hàng

Theo BCBS, có năm viễn cảnh có thể xảy ra với ngành ngân hàng. Tuy vậy, khả năng chỉ một viễn cảnh xảy ra là rất thấp. Thay vào đó, có sự pha trộn giữa năm viễn cảnh ở từng thị trường khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển của công nghệ và mức độ phát triển của thị trường, trong đó có khung quản lý giám sát. Tuy nhiên trong bối cảnh nào thì các ngân hàng cũng đều sẽ gặp khó khăn hơn để duy trì các mô hình hoạt động truyền thống trước sự thay đổi công nghệ và kỳ vọng từ phía khách hàng.

Viễn cảnh 1: Các ngân hàng phải tự đổi mới thông qua hiện đại hóa và số hóa (The Better Bank)

Trong trường hợp này, các ngân hàng hiện tại sẽ phải số hóa và hiện đại hóa để duy trì mối quan hệ với khách hàng và các dịch vụ ngân hàng cốt lõi, đồng thời tận dụng các công nghệ hỗ trợ để thay đổi các mô hình kinh doanh hiện tại. Các ngân hàng truyền thống với lợi thế về hiểu biết thị trường, tiềm lực tài chính của mình có thể cung cấp dịch vụ và sản phẩm tốt hơn thông qua việc ứng dụng các công nghệ mới hoặc phát triển các công nghệ hiện có như điện toán đám mây (cloud computing), dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), sổ cái phân tán (DLT) trên nền tảng blockchain.

Ngoài ra, các công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp phi ngân hàng cũng có thể được các ngân hàng truyền thống sử dụng như sinh trắc học, tư vấn tự động, chatbot, AI và thanh toán trên nền tảng di động để duy trì mối quan hệ với khách hàng từ xa thông qua các giá trị gia tăng. Bên cạnh đó, số hoá quy trình cho vay ngày càng trở nên quan trọng để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về tốc độ, sự tiện lợi và chi phí cho việc ra quyết định cấp tín dụng. Số hóa yêu cầu các giao diện, công cụ xử lý hiệu quả hơn, tích hợp với các hệ thống hiện tại và hệ thống quản lý dữ liệu cũng như các công cụ nhận dạng khách hàng và chống gian lận. Các ngân hàng có thể đạt được điều này bằng cách phát triển nền tảng cho vay của riêng mình hoặc mua một nền tảng thương hiệu cho vay hiện có hoặc thuê một bên thứ ba để cung cấp dịch vụ.

Viễn cảnh 2: Ngân hàng thế hệ mới thay thế ngân hàng truyền thống (The New Bank)

Trong tình huống này, các ngân hàng truyền thống không thể tồn tại trước làn sóng công nghệ đột phá và bị thay thế bởi các ngân hàng thế hệ mới hay các ngân hàng do các công ty công nghệ lớn thành lập với đầy đủ dịch vụ kỹ thuật số trên nền tảng ngân hàng. Vũ khí quan trọng của các neo-bank là hiệu quả dựa trên chi phí và sự sáng tạo. Các ngân hàng này vẫn tuân thủ quy định trong việc cấp giấy phép hiện hành và giao dịch trực tiếp với khách hàng.

Neo-bank là khái niệm chỉ các ngân hàng thế hệ mới chủ yếu sử dụng công nghệ để cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ thông qua ứng dụng trên smartphone và nền tảng dựa trên internet, cho phép các ngân hàng này có thể cung cấp các dịch vụ với chi phí thấp hơn so với các ngân hàng hiện tại. Một số neo-bank đang nổi lên trên thị trường như Atom, Monzo (Anh), Bunq (Hà Lan), WeBank (Trung Quốc), N26 (Đức), Simple, Varo Money (Mỹ), Fidor (Anh và Đức), Wanap (Argentina). Thực tế này cho thấy không có bằng chứng nào chỉ ra rằng nhóm ngân hàng truyền thống đang chiếm ưu thế.

Viễn cảnh 3: Ngân hàng kết hợp cùng doanh nghiệp Fintech cung cấp dịch vụ tài chính (The Distributed Bank)

Theo đó, các ngân hàng truyền thống hợp tác cùng các doanh nghiệp Fintech dưới nhiều hình thức khác nhau để cùng chia sẻ việc cung cấp các dịch vụ. Minh chứng cho mô hình này là việc gia tăng sử dụng các APIs mở (open API), các dịch vụ thanh toán di động, DLT giữa các ngân hàng, dịch vụ tư vấn đầu tư tự động.

Viễn cảnh 4: Ngân hàng trở thành bên thứ ba cung cấp dịch vụ, nhường dịch vụ khách hàng trực tiếp cho cho các doanh nghiệp Fintech hay công ty công nghệ lớn (The Relegated Bank)

Trong tình huống này, các ngân hàng truyền thống được cung cấp các dịch vụ ngân hàng cơ bản do đã có giấy phép thực hiện. Các doanh nghiệp Fintech thông qua các giao diện tiếp xúc trực tiếp với khách hàng của mình, cung cấp nhiều dịch vụ từ nhiều ngân hàng khác nhau. Viễn cảnh các ngân hàng giảm bớt vai trò này không phải là không thể xảy ra. Một số ví dụ về ngành tài chính được chuyên môn hóa nơi các ngân hàng chỉ cung cấp một phần dịch vụ như:

  • Sự phát triển của các nền tảng thanh toán dẫn đến việc các ngân hàng cung cấp dịch vụ hỗ trợ trong khi công ty Fintech sẽ trực tiếp liên hệ với khách hàng và quản lý mối quan hệ sản phẩm. Tuy nhiên, ngân hàng được cấp phép vẫn cần phải xác thực khách hàng để truy cập tài khoản từ thẻ thanh toán và tài khoản đã đăng ký.
  • Các nền tảng cho vay trực tuyến trở thành nhà cung cấp dịch vụ tài chính trực tiếp và có thể mở rộng phạm vi dịch vụ cung cấp ngoài cho vay để trở thành một trung gian mới giữa khách hàng và ngân hàng. Các ngân hàng hiện tại sẽ chỉ tồn tại để cung cấp các cơ chế hoạt động và tài trợ.
  • Các phương tiện truyền thông xã hội như ứng dụng nhắn tin tức thời WeChat ở Trung Quốc tận dụng dữ liệu khách hàng để cung cấp cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ tài chính được thiết kế riêng từ bên thứ ba, bao gồm cả các ngân hàng, trong khi các bên thứ ba như ngân hàng bị đẩy xuống quản lý sản phẩm và rủi ro.

Viễn cảnh 5: Ngân hàng không còn phù hợp và biến mất  (The Relegated Bank)

Trong tình huống này khách hàng tương tác trực tiếp với nhà cung cấp dịch vụ tài chính cá nhân là các Fintech. Khả năng này dù ít xảy ra, nhưng đã có những dấu hiệu như sự xuất hiện của các nền tảng cho vay giữa các cá nhân (P2P lending) cũng như các loại tiền mã hóa (cryptocurrencies).

Nguồn: LPBResearch tổng hợp

Fintech và tương lai nào cho ngành ngân hàng

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với sự ra đời của một loạt các công nghệ mới đang tác động mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, trong đó các công nghệ như thực tế ảo (VR), Internet vạn vật (Internet of Things), in 3D, dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần được ứng dụng vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Ngành ngân hàng là một trong những lĩnh vực chứng kiến những tác động mạnh mẽ từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với sự ra đời của hàng loạt các công nghệ mới ứng dụng trong lĩnh vực tài chính hay còn gọi là Fintech. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn để duy trì các mô hình hoạt động truyền thống trước sự thay đổi công nghệ và kỳ vọng từ phía khách hàng.

Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS), Fintech được hiểu là “các sáng tạo tài chính dựa trên nền tảng công nghệ để tạo ra các mô hình kinh doanh, ứng dụng, quy trình, sản phẩm mới có tác động cụ thể đến các thị trường và định chế tài chính, cũng như trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính”. Do vậy, Fintech nhận được sự quan tâm của rất nhiều đối tượng từ các tổ chức tài chính ngân hàng, các công ty công nghệ đến giới đầu tư đặc biệt là các quỹ mạo hiểm, cơ quan quản lý Nhà nước và người tiêu dùng thông qua việc tác động tới hành vi, thói quen sử dụng sản phẩm dịch vụ của khách hàng.

Với các nhà đầu tư mạo hiểm đó là kỳ vọng vào tương lai phát triển của Fintech và hiệu quả từ các khoản đầu tư. Trong khi đó yêu cầu với cơ quan quản lý là phải có những thay đổi về khuôn khổ pháp lý, môi trường chính sách nhằm xây dựng hệ sinh thái, tạo điều kiện khuyến khích các Fintech phát triển nhưng cũng phải thiết lập các điều kiện tiêu chuẩn nhằm đảm bảo an toàn, bảo mật và quyền lợi của người tiêu dùng. Đối với hệ thống ngân hàng, sự ra đời của các công ty Fintech vừa là thách thức nhưng cũng là cơ hội đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong tương lai khi các yêu cầu về đổi mới mô hình kinh doanh, cách thức quản trị, quy trình hoạt động nhằm tạo ra các sản phẩm dịch vụ có tính ứng dụng công nghệ cao ngày càng lớn. Theo đó các ngân hàng có thể sẽ hợp tác với các công ty Fintech để cùng phát triển hoặc cạnh tranh trực tiếp với nhau và cũng không loại trừ khả năng ngân hàng sẽ không còn phù hợp và biến mất.

Tại sao sự phát triển Fintech là nguy cơ với ngân hàng

Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS), ba nhóm lĩnh vực sản phẩm dịch vụ chính mà Fintech tham gia đều có liên quan và tác động trực tiếp đến các dịch vụ ngân hàng cốt lõi là nhóm dịch vụ huy động, cho vay, nhóm dịch vụ thanh toán và nhóm dịch vụ quản lý đầu tư. Trong khi các dịch vụ hỗ trợ thị trường về cải tiến và công nghệ mới của Fintech không liên quan đến ngành tài chính cụ thể nào nhưng cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của các công ty Fintech.

Các lĩnh vực mà Fintech tham gia

Nguồn: BCBS

Hiện nay sự phát triển của Fintech mới ở trong giai đoạn đầu nên việc đánh giá tác động đối với các ngân hàng và các mô hình kinh doanh của ngân hàng là không chắc chắn. Về định lượng, một số chuyên gia ước tính khoảng 10-40% doanh thu và 20-60% lợi nhuận của ngân hàng bán lẻ bị Fintech đe dọa trong vòng 10 năm tới trong khi một số quan điểm khác cho rằng các ngân hàng có thể thâu tóm được các đối thủ cạnh tranh mới này bằng tiềm lực của mình.

Dù thế nào thì sự phát triển của Fintech cũng đem lại nhiều cơ hội cho người dùng và cả nền kinh tế như: tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính tới mọi người dân, cá nhân hóa các dịch vụ ngân hàng để phục vụ tốt hơn với chi phí giao dịch thấp hơn, có thể giao dịch trong thời gian thực (real time), tăng tính cạnh tranh và hiệu quả của việc giám sát thông qua sự hợp tác chéo giữa các ngành, các nước.

Năm viễn cảnh của ngành ngân hàng

Theo BCBS, có năm viễn cảnh có thể xảy ra với ngành ngân hàng. Tuy vậy, khả năng chỉ một viễn cảnh xảy ra là rất thấp. Thay vào đó, có sự pha trộn giữa năm viễn cảnh ở từng thị trường khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển của công nghệ và mức độ phát triển của thị trường, trong đó có khung quản lý giám sát. Tuy nhiên trong bối cảnh nào thì các ngân hàng cũng đều sẽ gặp khó khăn hơn để duy trì các mô hình hoạt động truyền thống trước sự thay đổi công nghệ và kỳ vọng từ phía khách hàng.

Viễn cảnh 1: Các ngân hàng phải tự đổi mới thông qua hiện đại hóa và số hóa (The Better Bank)

Trong trường hợp này, các ngân hàng hiện tại sẽ phải số hóa và hiện đại hóa để duy trì mối quan hệ với khách hàng và các dịch vụ ngân hàng cốt lõi, đồng thời tận dụng các công nghệ hỗ trợ để thay đổi các mô hình kinh doanh hiện tại. Các ngân hàng truyền thống với lợi thế về hiểu biết thị trường, tiềm lực tài chính của mình có thể cung cấp dịch vụ và sản phẩm tốt hơn thông qua việc ứng dụng các công nghệ mới hoặc phát triển các công nghệ hiện có như điện toán đám mây (cloud computing), dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo (AI), sổ cái phân tán (DLT) trên nền tảng blockchain.

Ngoài ra, các công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp phi ngân hàng cũng có thể được các ngân hàng truyền thống sử dụng như sinh trắc học, tư vấn tự động, chatbot, AI và thanh toán trên nền tảng di động để duy trì mối quan hệ với khách hàng từ xa thông qua các giá trị gia tăng. Bên cạnh đó, số hoá quy trình cho vay ngày càng trở nên quan trọng để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng về tốc độ, sự tiện lợi và chi phí cho việc ra quyết định cấp tín dụng. Số hóa yêu cầu các giao diện, công cụ xử lý hiệu quả hơn, tích hợp với các hệ thống hiện tại và hệ thống quản lý dữ liệu cũng như các công cụ nhận dạng khách hàng và chống gian lận. Các ngân hàng có thể đạt được điều này bằng cách phát triển nền tảng cho vay của riêng mình hoặc mua một nền tảng thương hiệu cho vay hiện có hoặc thuê một bên thứ ba để cung cấp dịch vụ.

Viễn cảnh 2: Ngân hàng thế hệ mới thay thế ngân hàng truyền thống (The New Bank)

Trong tình huống này, các ngân hàng truyền thống không thể tồn tại trước làn sóng công nghệ đột phá và bị thay thế bởi các ngân hàng thế hệ mới hay các ngân hàng do các công ty công nghệ lớn thành lập với đầy đủ dịch vụ kỹ thuật số trên nền tảng ngân hàng. Vũ khí quan trọng của các neo-bank là hiệu quả dựa trên chi phí và sự sáng tạo. Các ngân hàng này vẫn tuân thủ quy định trong việc cấp giấy phép hiện hành và giao dịch trực tiếp với khách hàng.

Neo-bank là khái niệm chỉ các ngân hàng thế hệ mới chủ yếu sử dụng công nghệ để cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ thông qua ứng dụng trên smartphone và nền tảng dựa trên internet, cho phép các ngân hàng này có thể cung cấp các dịch vụ với chi phí thấp hơn so với các ngân hàng hiện tại. Một số neo-bank đang nổi lên trên thị trường như Atom, Monzo (Anh), Bunq (Hà Lan), WeBank (Trung Quốc), N26 (Đức), Simple, Varo Money (Mỹ), Fidor (Anh và Đức), Wanap (Argentina). Thực tế này cho thấy không có bằng chứng nào chỉ ra rằng nhóm ngân hàng truyền thống đang chiếm ưu thế.

Viễn cảnh 3: Ngân hàng kết hợp cùng doanh nghiệp Fintech cung cấp dịch vụ tài chính (The Distributed Bank)

Theo đó, các ngân hàng truyền thống hợp tác cùng các doanh nghiệp Fintech dưới nhiều hình thức khác nhau để cùng chia sẻ việc cung cấp các dịch vụ. Minh chứng cho mô hình này là việc gia tăng sử dụng các APIs mở (open API), các dịch vụ thanh toán di động, DLT giữa các ngân hàng, dịch vụ tư vấn đầu tư tự động.

Viễn cảnh 4: Ngân hàng trở thành bên thứ ba cung cấp dịch vụ, nhường dịch vụ khách hàng trực tiếp cho cho các doanh nghiệp Fintech hay công ty công nghệ lớn (The Relegated Bank)

Trong tình huống này, các ngân hàng truyền thống được cung cấp các dịch vụ ngân hàng cơ bản do đã có giấy phép thực hiện. Các doanh nghiệp Fintech thông qua các giao diện tiếp xúc trực tiếp với khách hàng của mình, cung cấp nhiều dịch vụ từ nhiều ngân hàng khác nhau. Viễn cảnh các ngân hàng giảm bớt vai trò này không phải là không thể xảy ra. Một số ví dụ về ngành tài chính được chuyên môn hóa nơi các ngân hàng chỉ cung cấp một phần dịch vụ như:

  • Sự phát triển của các nền tảng thanh toán dẫn đến việc các ngân hàng cung cấp dịch vụ hỗ trợ trong khi công ty Fintech sẽ trực tiếp liên hệ với khách hàng và quản lý mối quan hệ sản phẩm. Tuy nhiên, ngân hàng được cấp phép vẫn cần phải xác thực khách hàng để truy cập tài khoản từ thẻ thanh toán và tài khoản đã đăng ký.
  • Các nền tảng cho vay trực tuyến trở thành nhà cung cấp dịch vụ tài chính trực tiếp và có thể mở rộng phạm vi dịch vụ cung cấp ngoài cho vay để trở thành một trung gian mới giữa khách hàng và ngân hàng. Các ngân hàng hiện tại sẽ chỉ tồn tại để cung cấp các cơ chế hoạt động và tài trợ.
  • Các phương tiện truyền thông xã hội như ứng dụng nhắn tin tức thời WeChat ở Trung Quốc tận dụng dữ liệu khách hàng để cung cấp cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ tài chính được thiết kế riêng từ bên thứ ba, bao gồm cả các ngân hàng, trong khi các bên thứ ba như ngân hàng bị đẩy xuống quản lý sản phẩm và rủi ro.

Viễn cảnh 5: Ngân hàng không còn phù hợp và biến mất  (The Relegated Bank)

Trong tình huống này khách hàng tương tác trực tiếp với nhà cung cấp dịch vụ tài chính cá nhân là các Fintech. Khả năng này dù ít xảy ra, nhưng đã có những dấu hiệu như sự xuất hiện của các nền tảng cho vay giữa các cá nhân (P2P lending) cũng như các loại tiền mã hóa (cryptocurrencies).

Nguồn: LPBResearch tổng hợp

Tin khác

Viết bình luận