LienVietPostBank đứng ở đâu trong danh sách ngân hàng Châu Á

LienVietPostBank đứng ở đâu trong danh sách ngân hàng Châu Á

11/12/2017 16:24

 

Theo nghiên cứu và xếp hạng của The Asian Banker, trong danh sách 500 ngân hàng lớn nhất châu Á, LienVietPostBank xếp thứ 165 về chỉ số sức mạnh tổng hợp, trong khi đứng thứ 457 trên 500 về quy mô tổng tài sản.

Những ngân hàng lớn mạnh nhất châu Á

The Asian Banker là tổ chức hàng năm công bố bảng xếp hạng The Asian Banker 500 hay AB500. Thống kê này liệt kê danh sách các ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á, Thái Bình Dương (bao gồm thêm Australia, New Zealand) theo thứ hạng về tổng tài sản.

Ngoài ra, công bố hàng năm về “Ngân hàng mạnh nhất châu Á” cung cấp cái nhìn và đánh giá tổng hợp hơn về chất lượng hoạt động của các ngân hàng. Xếp hạng được xác định bằng cách sử dụng phương pháp thẻ điểm dựa trên sáu kết quả quan trọng, các chỉ số được đánh giá theo thang điểm 0-5: Quy mô, Tăng trưởng bảng cân bằng, Rủi ro, Khả năng sinh lời, Chất lượng tài sản và thanh khoản.

Bảng 1: Bảng tính điểm xếp hạng chỉ số sức mạnh tổng hợp của TAB

Theo các tiêu chí này, 500 ngân hàng lớn nhất trong khu vực có điểm số trung bình là 3,17 điểm so với mức 5,00, so với 3,10 trong đánh giá năm ngoái. Điểm số trung bình cao hơn chủ yếu là do hiệu quả hoạt động tốt hơn trong bảng cân đối tài sản, mức độ rủi ro và tính thanh khoản. Tất cả các thị trường trong khu vực chứng kiến ​​sự cải thiện điểm số trung bình, ngoại trừ Úc, Bangladesh và New Zealand. 

Ngân hàng Bank of China (HongKong) một lần nữa đứng đầu bảng xếp hạng, với điểm sức mạnh tăng từ 4,14 năm trước lên 4,46 năm nay. Ngân hàng này duy trì vị thế vốn mạnh, thanh khoản và chất lượng tài sản tốt, tăng trưởng được cải thiện và khả năng sinh lợi tốt hơn.

Ngoài sáu ngân hàng HongKong, 20 ngân hàng mạnh nhất trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương cũng bao gồm bốn ngân hàng Trung Quốc, ba ngân hàng Singapore, hai ngân hàng Macau, một ngân hàng Brunei, một ngân hàng Nhật Bản, một ngân hàng Malaysia, một ngân hàng Đài Loan và một ngân hàng của Thái Lan. Các ngân hàng tại HongKong và Singapore tiếp tục đạt được điểm số trung bình cao nhất, lần lượt là 3,89 và 3,67. Trái lại, Bangladesh và Ấn Độ có điểm số trung bình thấp nhất, dưới 2,5.

Trong khi đó về quy mô, Bank of China chỉ là ngân hàng lớn thứ 5 trong khu vực, lùi một bậc so với năm 2016, trong một bảng xếp hạng mà Trung Quốc chiếm 4 vị trí cao nhất, còn lại top 10 thuộc về các ngân hàng Nhật Bản.

Bảng 2: Danh sách 10 ngân hàng lớn nhất châu Á theo TAB

Áp lực về giảm hiệu quả, lợi nhuận ở khu vực, trái lại Việt Nam cải thiện tích cực

Ngành tài chính ngân hàng Châu Á Thái Bình Dương có sự sụt giảm lợi nhuận trong năm tài chính 2016, với tỷ suất lợi nhuận trung bình trên vốn (ROE) của top 500 ngân hàng giảm từ 10,1% năm 2016 xuống 10,7% từ 12,1% một năm trước đó. Chênh lệch ròng lãi suất thu hẹp, chi phí nợ xấu cao hơn cùng với yêu cầu tăng vốn điều lệ là yếu tố chính kéo lợi nhuận và hiệu quả giảm thấp.

ROE của các ngân hàng đã bị áp lực giảm từ khi thực hiện các yêu cầu về vốn của Basel, mặc dù vốn và thanh khoản của họ đã tăng lên. Hầu hết các nhà quản lý trong khu vực đã áp đặt các yêu cầu về vốn và thanh khoản chặt chẽ theo các quy tắc của Basel. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng, các ngân hàng đã tiếp tục tăng vốn trong năm 2016, dẫn đến sự sụt giảm của ROE. Các ngân hàng cũng trở nên thận trọng hơn trong việc cho vay, để đáp ứng các yêu cầu cao hơn. Các xu hướng này dự kiến ​​sẽ tiếp tục trong tương lai gần.

Điểm trung bình cho lợi nhuận trên tài sản (ROA) của tất cả 500 ngân hàng đã giảm xuống còn 2,1 từ 2,4 của năm trước và điểm trung bình cho tỷ lệ chi phí/thu nhập giảm xuống còn 3,5 từ 3,7.  ROE trung bình của các ngân hàng New Zealand đã giảm từ 18,1% vào năm 2015 xuống còn 13,0% vào năm 2016, tuy nhiên vẫn là một trong những nước có tỷ suất sinh lợi cao nhất trong khu vực. 

Ngược lại, ROE và ROA tăng lên ở Ấn Độ và Việt Nam. ROE trung bình và ROA của các ngân hàng Ấn Độ vẫn là mức thấp nhất trong khu vực, mặc dù cải thiện nhẹ. Trong khi đó các ngân hàng Việt Nam tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ nhờ những nỗ lực của chính phủ nhằm cải thiện hệ thống ngân hàng thông qua các chính sách cải cách ngân hàng trong vài năm qua. 

ROE trung bình của ngân hàng Việt Nam đã được cải thiện từ 10,3% vào năm 2015 lên 12,1% vào năm 2016, mặc dù mức chi phí hoạt động cao tiếp tục ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng.

LienVietPostBank khi xếp thứ 6 trong số các ngân hàng Việt Nam

Trong 15 ngân hàng Việt Nam được The Asian Banker xếp hạng về sức mạnh tổng hợp, LienVietPostBank chỉ xếp sau 5 ngân hàng Vietcombank, Techcombank, VietinBank, MB và BIDV. HDBank cũng vượt lên nhiều ngân hàng thu hút sự chú ý thời gian qua để xếp ở vị thứ 8, cao hơn hẳn ở các tiêu chí đánh giá về quy mô tài sản và hiệu quả khi so với VIB, TPBank hay thậm chí VPBank.

Đây là mức thay đổi ngoạn mục của LienVietPostBank so với năm 2016 (chỉ xếp hạng 17/17 ngân hàng của Việt Nam).

Công bố dựa trên kết quả nghiên cứu hàng năm về hoạt động tài chính và kinh doanh của ngành ngân hàng ở khu vực châu Á Thái Bình Dương của The Asian Banker thể hiện sự tích cực của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Như đã nói, tiêu chí đánh giá của The Asian Banker là dựa trên quy mô tài sản để liệt kê danh sách 500 ngân hàng lớn nhất (AB500Rank) và xếp loại 500 ngân hàng này dựa trên các chỉ số tài chính và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng (Strength Rank) – thành xếp hạng các ngân hàng mạnh nhất khu vực.

Vì vậy có sự thay đổi thứ tự rõ ràng của mỗi ngân hàng giữa hai bảng xếp hạng: lớn nhất và mạnh nhất

Ví dụ, trong bảng xếp hạng, về quy mô tài sản, Vietcombank đứng ở vị trí thứ 3 tại thị trường Việt Nam (thứ hạng 188 trong bảng AB500) nhưng lại được đánh giá cao về khả năng sinh lời khi xếp thứ 48 trong danh sách về Strength Rank, cao nhất trong số các ngân hàng thương mại Việt Nam. Ngân hàng đứng đầu về tài sản tại Việt Nam là BIDV (xếp thứ 157 trong bảng) lại có chỉ số sức mạnh xếp sau cả Techcombank, VietinBank và MB.

Dù còn nhiều ý kiến khác nhau về danh sách này song nhìn chung phương pháp nghiên cứu của The Asian Banker cho kết quả tương đối sát gần với thực tế hoạt động của hệ thống ngân hàng nội địa và giúp các ngân hàng hiểu rõ thêm họ đang tiếp cận các ngân hàng trong khu vực từ vị trí như thế nào.

LPB Research tổng hợp từ The Asian Banker

LienVietPostBank đứng ở đâu trong danh sách ngân hàng Châu Á

 

Theo nghiên cứu và xếp hạng của The Asian Banker, trong danh sách 500 ngân hàng lớn nhất châu Á, LienVietPostBank xếp thứ 165 về chỉ số sức mạnh tổng hợp, trong khi đứng thứ 457 trên 500 về quy mô tổng tài sản.

Những ngân hàng lớn mạnh nhất châu Á

The Asian Banker là tổ chức hàng năm công bố bảng xếp hạng The Asian Banker 500 hay AB500. Thống kê này liệt kê danh sách các ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á, Thái Bình Dương (bao gồm thêm Australia, New Zealand) theo thứ hạng về tổng tài sản.

Ngoài ra, công bố hàng năm về “Ngân hàng mạnh nhất châu Á” cung cấp cái nhìn và đánh giá tổng hợp hơn về chất lượng hoạt động của các ngân hàng. Xếp hạng được xác định bằng cách sử dụng phương pháp thẻ điểm dựa trên sáu kết quả quan trọng, các chỉ số được đánh giá theo thang điểm 0-5: Quy mô, Tăng trưởng bảng cân bằng, Rủi ro, Khả năng sinh lời, Chất lượng tài sản và thanh khoản.

Bảng 1: Bảng tính điểm xếp hạng chỉ số sức mạnh tổng hợp của TAB

Theo các tiêu chí này, 500 ngân hàng lớn nhất trong khu vực có điểm số trung bình là 3,17 điểm so với mức 5,00, so với 3,10 trong đánh giá năm ngoái. Điểm số trung bình cao hơn chủ yếu là do hiệu quả hoạt động tốt hơn trong bảng cân đối tài sản, mức độ rủi ro và tính thanh khoản. Tất cả các thị trường trong khu vực chứng kiến ​​sự cải thiện điểm số trung bình, ngoại trừ Úc, Bangladesh và New Zealand. 

Ngân hàng Bank of China (HongKong) một lần nữa đứng đầu bảng xếp hạng, với điểm sức mạnh tăng từ 4,14 năm trước lên 4,46 năm nay. Ngân hàng này duy trì vị thế vốn mạnh, thanh khoản và chất lượng tài sản tốt, tăng trưởng được cải thiện và khả năng sinh lợi tốt hơn.

Ngoài sáu ngân hàng HongKong, 20 ngân hàng mạnh nhất trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương cũng bao gồm bốn ngân hàng Trung Quốc, ba ngân hàng Singapore, hai ngân hàng Macau, một ngân hàng Brunei, một ngân hàng Nhật Bản, một ngân hàng Malaysia, một ngân hàng Đài Loan và một ngân hàng của Thái Lan. Các ngân hàng tại HongKong và Singapore tiếp tục đạt được điểm số trung bình cao nhất, lần lượt là 3,89 và 3,67. Trái lại, Bangladesh và Ấn Độ có điểm số trung bình thấp nhất, dưới 2,5.

Trong khi đó về quy mô, Bank of China chỉ là ngân hàng lớn thứ 5 trong khu vực, lùi một bậc so với năm 2016, trong một bảng xếp hạng mà Trung Quốc chiếm 4 vị trí cao nhất, còn lại top 10 thuộc về các ngân hàng Nhật Bản.

Bảng 2: Danh sách 10 ngân hàng lớn nhất châu Á theo TAB

Áp lực về giảm hiệu quả, lợi nhuận ở khu vực, trái lại Việt Nam cải thiện tích cực

Ngành tài chính ngân hàng Châu Á Thái Bình Dương có sự sụt giảm lợi nhuận trong năm tài chính 2016, với tỷ suất lợi nhuận trung bình trên vốn (ROE) của top 500 ngân hàng giảm từ 10,1% năm 2016 xuống 10,7% từ 12,1% một năm trước đó. Chênh lệch ròng lãi suất thu hẹp, chi phí nợ xấu cao hơn cùng với yêu cầu tăng vốn điều lệ là yếu tố chính kéo lợi nhuận và hiệu quả giảm thấp.

ROE của các ngân hàng đã bị áp lực giảm từ khi thực hiện các yêu cầu về vốn của Basel, mặc dù vốn và thanh khoản của họ đã tăng lên. Hầu hết các nhà quản lý trong khu vực đã áp đặt các yêu cầu về vốn và thanh khoản chặt chẽ theo các quy tắc của Basel. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng, các ngân hàng đã tiếp tục tăng vốn trong năm 2016, dẫn đến sự sụt giảm của ROE. Các ngân hàng cũng trở nên thận trọng hơn trong việc cho vay, để đáp ứng các yêu cầu cao hơn. Các xu hướng này dự kiến ​​sẽ tiếp tục trong tương lai gần.

Điểm trung bình cho lợi nhuận trên tài sản (ROA) của tất cả 500 ngân hàng đã giảm xuống còn 2,1 từ 2,4 của năm trước và điểm trung bình cho tỷ lệ chi phí/thu nhập giảm xuống còn 3,5 từ 3,7.  ROE trung bình của các ngân hàng New Zealand đã giảm từ 18,1% vào năm 2015 xuống còn 13,0% vào năm 2016, tuy nhiên vẫn là một trong những nước có tỷ suất sinh lợi cao nhất trong khu vực. 

Ngược lại, ROE và ROA tăng lên ở Ấn Độ và Việt Nam. ROE trung bình và ROA của các ngân hàng Ấn Độ vẫn là mức thấp nhất trong khu vực, mặc dù cải thiện nhẹ. Trong khi đó các ngân hàng Việt Nam tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ nhờ những nỗ lực của chính phủ nhằm cải thiện hệ thống ngân hàng thông qua các chính sách cải cách ngân hàng trong vài năm qua. 

ROE trung bình của ngân hàng Việt Nam đã được cải thiện từ 10,3% vào năm 2015 lên 12,1% vào năm 2016, mặc dù mức chi phí hoạt động cao tiếp tục ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng.

LienVietPostBank khi xếp thứ 6 trong số các ngân hàng Việt Nam

Trong 15 ngân hàng Việt Nam được The Asian Banker xếp hạng về sức mạnh tổng hợp, LienVietPostBank chỉ xếp sau 5 ngân hàng Vietcombank, Techcombank, VietinBank, MB và BIDV. HDBank cũng vượt lên nhiều ngân hàng thu hút sự chú ý thời gian qua để xếp ở vị thứ 8, cao hơn hẳn ở các tiêu chí đánh giá về quy mô tài sản và hiệu quả khi so với VIB, TPBank hay thậm chí VPBank.

Đây là mức thay đổi ngoạn mục của LienVietPostBank so với năm 2016 (chỉ xếp hạng 17/17 ngân hàng của Việt Nam).

Công bố dựa trên kết quả nghiên cứu hàng năm về hoạt động tài chính và kinh doanh của ngành ngân hàng ở khu vực châu Á Thái Bình Dương của The Asian Banker thể hiện sự tích cực của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Như đã nói, tiêu chí đánh giá của The Asian Banker là dựa trên quy mô tài sản để liệt kê danh sách 500 ngân hàng lớn nhất (AB500Rank) và xếp loại 500 ngân hàng này dựa trên các chỉ số tài chính và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng (Strength Rank) – thành xếp hạng các ngân hàng mạnh nhất khu vực.

Vì vậy có sự thay đổi thứ tự rõ ràng của mỗi ngân hàng giữa hai bảng xếp hạng: lớn nhất và mạnh nhất

Ví dụ, trong bảng xếp hạng, về quy mô tài sản, Vietcombank đứng ở vị trí thứ 3 tại thị trường Việt Nam (thứ hạng 188 trong bảng AB500) nhưng lại được đánh giá cao về khả năng sinh lời khi xếp thứ 48 trong danh sách về Strength Rank, cao nhất trong số các ngân hàng thương mại Việt Nam. Ngân hàng đứng đầu về tài sản tại Việt Nam là BIDV (xếp thứ 157 trong bảng) lại có chỉ số sức mạnh xếp sau cả Techcombank, VietinBank và MB.

Dù còn nhiều ý kiến khác nhau về danh sách này song nhìn chung phương pháp nghiên cứu của The Asian Banker cho kết quả tương đối sát gần với thực tế hoạt động của hệ thống ngân hàng nội địa và giúp các ngân hàng hiểu rõ thêm họ đang tiếp cận các ngân hàng trong khu vực từ vị trí như thế nào.

LPB Research tổng hợp từ The Asian Banker

Tin khác

Viết bình luận