Phương pháp tính mới và thay đổi thứ hạng trong cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam

Phương pháp tính mới và thay đổi thứ hạng trong cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam

18/10/2018 08:52

Theo “Báo cáo Năng lực cạnh tranh Toàn cầu” năm 2018 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam xếp thứ 77 trong số 140 nền kinh tế. Thứ hạng này thấp hơn với mức 74/135 năm ngoái và thay đổi lớn so với phương pháp tính trước đây của WEF.

Xếp hạng cạnh tranh toàn cầu

Báo cáo cạnh tranh toàn cầu là một báo cáo hàng năm được công bố bởi Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF - World Economic Forum), phát hành lần đầu vào năm 1979. Bản báo cáo năm 2018 bao gồm 140 nền kinh tế chính và nổi bật. Báo cáo này "nhằm đánh giá khả năng cung cấp mức độ thịnh vượng cao hay thấp đối với dân chúng ở mỗi quốc gia, trong đó có công bố "chỉ số cạnh tranh quốc gia" (GCI - Global Competitiveness Index) nhằm đo lường khuynh hướng của các thế chế, chính sách, những nhân tố tạo thành trạng thái hiện thời & những mức giới hạn về trạng thái thịnh vượng kinh tế".

Dựa trên bốn yếu tố cơ bản hàng đầu được coi là ảnh hưởng tới chỉ số cạnh tranh của quốc gia gồm lạm phát, cơ sở hạ tầng, lao động có trình độ và mức độ tham nhũng, WEF sẽ xếp hạng các quốc gia trên toàn cầu trong Chỉ số cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness Index) và công bố số liệu đó trong Global Competitiveness Report.

Xếp hạng năng lực cạnh tranh dựa trên số liệu kinh tế được chính các nước tham gia khảo sát công bố (hard data) và kết quả lấy từ khảo sát ý kiến các doanh nhân và chuyên gia kinh tế (soft data).

12 trụ cột đánh giá trong xếp hạng bao gồm: thể chế, hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, ổn định kinh tế vĩ mô, sức khỏe, kỹ năng, thị trường cho sản phẩm, thị trường lao động, hệ thống tài chính, quy mô thị trường, động lực kinh doanh, và năng lực sáng tạo.

Nhóm I Các Yêu cầu căn bản

1. Thể chế, 2 Hạ tầng cơ sở, 3. Môi trường kinh tế vĩ mô, 4. Sức khỏe và giáo dục tiểu học.

Nhóm II Các Yếu tố làm tăng hiệu quả

5. Giáo dục đại học và đào tạo, 6. Hiệu quả của thị trường hàng hóa, 7. Hiệu quả của thị trường lao động, 8. Sự phát triển của thị trường tài chính, 9. Sự sãn sàng công nghệ, 10. Quy mô của thị trường.

Nhóm III Đổi mới và sự tinh vi

11. Sự tinh vi trong kinh doanh, 12. Đổi mới.

Phương pháp tính mới năm 2018

WEF cho biết năm nay, phương pháp thực hiện xếp hạng đã có sự thay đổi toàn diện, theo hướng đề cao tăng trưởng tương lai dựa trên công nghệ.

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, phương pháp đánh giá của WEF kể từ năm 2018 đã có thay đổi, không dựa vào trọng số và các yếu tố đều được xem xét đồng bộ như nhau.

Đánh giá có trọng số, theo ông Cung là việc WEF từ năm 2017 kể về trước xem xét các yếu tố căn bản của 1 quốc gia chiếm khoảng 60% điểm số, 20 – 30% còn lại là yếu tố thúc đẩy đến hiệu quả và khoảng 10% điểm số cho nhóm công nghệ. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, các khía cạnh đều được xem xét như nhau và theo hướng đề cao công nghệ.

Bản thân Báo cáo cũng thêm thành tố 4.0 vào, nguyên văn “Global Competitiveness Index 4.0”, theo đó Báo cáo đánh giá bối cảnh cạnh tranh của 140 nền kinh tế, cung cấp cái nhìn sâu sắc vào các yếu tố điều chỉnh khả năng tăng trưởng kinh tế trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Do sự điều chỉnh phương pháp này mà Thụy Sỹ tụt xuống vị trí thứ tư, trong khi Singapore và Đức tiếp tục giữ vị trí tương ứng thứ hai và thứ ba.

Theo phương pháp đánh giá cũ của WEF, Mỹ nhận mức điểm kém hơn do môi trường kinh tế vĩ mô và nợ công. Tuy nhiên, xếp hạng mới dành cho Mỹ điểm số lên tới 99,2 điểm ở hạng mục "biến động nợ" (debt dynamics).

Có một số ý kiến cho rằng WEF đã điều chỉnh phương pháp đánh giá nhằm mục đích làm hài lòng Tổng thống Donald Trump. Tuy nhiên, các chuyên gia của WEF phủ nhận điều này, hãng tin Reuters cho hay.

Xếp hạng năm nay của WEF đưa ra đánh giá 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thang điểm từ 0-100, so với con số 135 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng vào năm ngoái.

Việt Nam xếp thứ 77/140 trong xếp hạng cạnh tranh của WEF năm nay, so với vị trí 74/135 trong xếp hạng năm ngoái. Điểm số của Việt Nam đạt được năm nay là 58,1 điểm, tăng nhẹ so với mức 57,9 điểm vào năm 2017.

Trong Báo cáo thường niên năm 2017-2018 mà WEF công bố tháng 9/2017, Việt Nam tăng 5 bậc so với năm 2016, với xếp hạng 55 trên 137 quốc gia. Đây là thứ hạng cao nhất của Việt Nam kể từ khi WEF đưa ra chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu tổng hợp vào năm 2006. Với thứ hạng này, Việt Nam xếp trên một số nước ASEAN như Philippines, Campuchia, Lào.

Như vậy, thứ hạng của Việt Nam thay đổi rất lớn theo cách tính khác nhau, đồng thời cũng chỉ ra chúng ta đang yếu ở những năng lực ngày càng cần trong tương lai, đó là sáng tạo và công nghệ.

Chỉ số của Việt Nam

Trong số 12 trụ cột đánh giá, Việt Nam đạt điểm cao nhất ở trụ cột "sức khỏe", với 81 điểm. Trong khi đó, ở trụ cột "năng lực sáng tạo", Việt Nam chỉ đạt 33 điểm.

Điểm số dành cho Việt Nam ở các hạng mục đánh giá. Từ trái qua: điểm năng lực cạnh tranh, thể chế, hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, ổn định kinh tế vĩ mô, sức khỏe, kỹ năng, thị trường cho sản phẩm, thị trường lao động, hệ thống tài chính, quy mô thị trường, động lực kinh doanh, và năng lực sáng tạo - Nguồn: WEF.

Trung Quốc đứng ở vị trí 28 trong xếp hạng, Nga thứ 43 và Ấn Độ ở vị trí 58. So với năm ngoái, Ấn Độ tụt 18 bậc.

Thái Lan xếp thứ 38, tăng 2 bậc so với năm 2017. Indonesia xếp 45, tăng 2 bậc. Malaysia đứng ở vị trí 25, tăng 1 bậc. Philippines xếp thứ 56, tăng 12 bậc.

Những năng lực thiếu hụt

Viện trưởng CIEM nhận xét yếu tố đổi mới sáng tạo của Việt Nam rất thấp. Trong 1 năm trở lại đây, theo ông quan sát, không có một sự thay đổi nào đáng kể.

Như vậy, đây có thể xem là một tín hiệu lo ngại rõ ràng cho việc Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo.

"Không có cách gì khác để cải thiện sức sáng tạo ngoài tạo dựng sự cạnh tranh", ông Cung nói và nhấn mạnh chỉ khi buộc phải tồn tại, doanh nghiệp mới đổi mới. Hiện nay, khi doanh nghiệp vẫn "sống" được bằng quan hệ, bằng cơ chế xin cho, hẳn nhiên, tính sáng tạo bị triệt tiêu.

Nhóm yếu tố khoa học, sáng tạo được coi là điểm yếu lâu dài của Việt Nam, với điểm số, thứ hạng thấp và không cải thiện nhiều trong những năm qua bao gồm năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp - xếp hạng 79, chất lượng nghiên cứu khoa học - xếp hạng 90, mức độ sẵn có của chuyên gia và kỹ sư - xếp hạng 78…

Mặt khác, báo cáo về mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai công bố bởi WEF gần đây cho thấy trong tổng số 100 quốc gia được đánh giá, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia chưa sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai, đặc biệt là các yếu tố về phát triển nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo công nghệ đều có điểm số thấp.

So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam xếp sau Malaysia (xếp hạng thứ 23/100 về công nghệ và đổi mới sáng tạo và 21/100 về nguồn nhân lực), Thái Lan (41/100 về công nghệ và đổi mới sáng tạo, 53/100 về nguồn nhân lực) hay Philippines (59/100 công nghệ và đổi mới sáng tạo và 66/100 về nguồn nhân lực). Việt Nam chỉ xếp hạng gần tương đương Campuchia (xếp hạng tương ứng 83/100 và 86/100).

Tốc độ đổi mới công nghệ cũng là một điểm yếu của Việt Nam. Xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017-2018 cho thấy trụ cột về Mức độ sẵn sàng công nghệ của Việt Nam xếp hạng 71/137, thấp hơn nhiều so với Singapore (14/137), Thái Lan (60/137).

Trong đó, chỉ số thành phần về mức độ sẵn có của công nghệ mới được xếp hạng 112, khả năng hấp thụ công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp xếp hạng 93, chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI xếp hạng 89.

Bên cạnh đó, báo cáo CIEM cũng đánh giá tình trạng nhập khẩu các thiết bị, công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, kém hiệu quả vẫn tồn tại. Theo kết quả điều tra "Công nghệ và cạnh tranh ngành chế biến, chế tạo giai đoạn 2009 - 2012"47, chỉ có khoảng 11% doanh nghiệp phát triển những loại hình công nghệ mới.

Điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2014 cũng cho thấy sự rất hạn chế của doanh nghiệp khi chỉ 6,23% tham gia vào hoạt động nghiên cứu và cứu và triển khai (R&D).

Thực tế này cho thấy Việt Nam cần tạo dựng môi trường thuận lợi, thể chế, chính sách mới cho cộng đồng DN để thúc đẩy quá trình nâng cao công nghệ và sáng tạo, qua đó thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam.

LPB Research tổng hợp

Phương pháp tính mới và thay đổi thứ hạng trong cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam

Theo “Báo cáo Năng lực cạnh tranh Toàn cầu” năm 2018 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Việt Nam xếp thứ 77 trong số 140 nền kinh tế. Thứ hạng này thấp hơn với mức 74/135 năm ngoái và thay đổi lớn so với phương pháp tính trước đây của WEF.

Xếp hạng cạnh tranh toàn cầu

Báo cáo cạnh tranh toàn cầu là một báo cáo hàng năm được công bố bởi Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF - World Economic Forum), phát hành lần đầu vào năm 1979. Bản báo cáo năm 2018 bao gồm 140 nền kinh tế chính và nổi bật. Báo cáo này "nhằm đánh giá khả năng cung cấp mức độ thịnh vượng cao hay thấp đối với dân chúng ở mỗi quốc gia, trong đó có công bố "chỉ số cạnh tranh quốc gia" (GCI - Global Competitiveness Index) nhằm đo lường khuynh hướng của các thế chế, chính sách, những nhân tố tạo thành trạng thái hiện thời & những mức giới hạn về trạng thái thịnh vượng kinh tế".

Dựa trên bốn yếu tố cơ bản hàng đầu được coi là ảnh hưởng tới chỉ số cạnh tranh của quốc gia gồm lạm phát, cơ sở hạ tầng, lao động có trình độ và mức độ tham nhũng, WEF sẽ xếp hạng các quốc gia trên toàn cầu trong Chỉ số cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness Index) và công bố số liệu đó trong Global Competitiveness Report.

Xếp hạng năng lực cạnh tranh dựa trên số liệu kinh tế được chính các nước tham gia khảo sát công bố (hard data) và kết quả lấy từ khảo sát ý kiến các doanh nhân và chuyên gia kinh tế (soft data).

12 trụ cột đánh giá trong xếp hạng bao gồm: thể chế, hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, ổn định kinh tế vĩ mô, sức khỏe, kỹ năng, thị trường cho sản phẩm, thị trường lao động, hệ thống tài chính, quy mô thị trường, động lực kinh doanh, và năng lực sáng tạo.

Nhóm I Các Yêu cầu căn bản

1. Thể chế, 2 Hạ tầng cơ sở, 3. Môi trường kinh tế vĩ mô, 4. Sức khỏe và giáo dục tiểu học.

Nhóm II Các Yếu tố làm tăng hiệu quả

5. Giáo dục đại học và đào tạo, 6. Hiệu quả của thị trường hàng hóa, 7. Hiệu quả của thị trường lao động, 8. Sự phát triển của thị trường tài chính, 9. Sự sãn sàng công nghệ, 10. Quy mô của thị trường.

Nhóm III Đổi mới và sự tinh vi

11. Sự tinh vi trong kinh doanh, 12. Đổi mới.

Phương pháp tính mới năm 2018

WEF cho biết năm nay, phương pháp thực hiện xếp hạng đã có sự thay đổi toàn diện, theo hướng đề cao tăng trưởng tương lai dựa trên công nghệ.

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, phương pháp đánh giá của WEF kể từ năm 2018 đã có thay đổi, không dựa vào trọng số và các yếu tố đều được xem xét đồng bộ như nhau.

Đánh giá có trọng số, theo ông Cung là việc WEF từ năm 2017 kể về trước xem xét các yếu tố căn bản của 1 quốc gia chiếm khoảng 60% điểm số, 20 – 30% còn lại là yếu tố thúc đẩy đến hiệu quả và khoảng 10% điểm số cho nhóm công nghệ. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, các khía cạnh đều được xem xét như nhau và theo hướng đề cao công nghệ.

Bản thân Báo cáo cũng thêm thành tố 4.0 vào, nguyên văn “Global Competitiveness Index 4.0”, theo đó Báo cáo đánh giá bối cảnh cạnh tranh của 140 nền kinh tế, cung cấp cái nhìn sâu sắc vào các yếu tố điều chỉnh khả năng tăng trưởng kinh tế trong thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Do sự điều chỉnh phương pháp này mà Thụy Sỹ tụt xuống vị trí thứ tư, trong khi Singapore và Đức tiếp tục giữ vị trí tương ứng thứ hai và thứ ba.

Theo phương pháp đánh giá cũ của WEF, Mỹ nhận mức điểm kém hơn do môi trường kinh tế vĩ mô và nợ công. Tuy nhiên, xếp hạng mới dành cho Mỹ điểm số lên tới 99,2 điểm ở hạng mục "biến động nợ" (debt dynamics).

Có một số ý kiến cho rằng WEF đã điều chỉnh phương pháp đánh giá nhằm mục đích làm hài lòng Tổng thống Donald Trump. Tuy nhiên, các chuyên gia của WEF phủ nhận điều này, hãng tin Reuters cho hay.

Xếp hạng năm nay của WEF đưa ra đánh giá 140 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thang điểm từ 0-100, so với con số 135 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng vào năm ngoái.

Việt Nam xếp thứ 77/140 trong xếp hạng cạnh tranh của WEF năm nay, so với vị trí 74/135 trong xếp hạng năm ngoái. Điểm số của Việt Nam đạt được năm nay là 58,1 điểm, tăng nhẹ so với mức 57,9 điểm vào năm 2017.

Trong Báo cáo thường niên năm 2017-2018 mà WEF công bố tháng 9/2017, Việt Nam tăng 5 bậc so với năm 2016, với xếp hạng 55 trên 137 quốc gia. Đây là thứ hạng cao nhất của Việt Nam kể từ khi WEF đưa ra chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu tổng hợp vào năm 2006. Với thứ hạng này, Việt Nam xếp trên một số nước ASEAN như Philippines, Campuchia, Lào.

Như vậy, thứ hạng của Việt Nam thay đổi rất lớn theo cách tính khác nhau, đồng thời cũng chỉ ra chúng ta đang yếu ở những năng lực ngày càng cần trong tương lai, đó là sáng tạo và công nghệ.

Chỉ số của Việt Nam

Trong số 12 trụ cột đánh giá, Việt Nam đạt điểm cao nhất ở trụ cột "sức khỏe", với 81 điểm. Trong khi đó, ở trụ cột "năng lực sáng tạo", Việt Nam chỉ đạt 33 điểm.

Điểm số dành cho Việt Nam ở các hạng mục đánh giá. Từ trái qua: điểm năng lực cạnh tranh, thể chế, hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, ổn định kinh tế vĩ mô, sức khỏe, kỹ năng, thị trường cho sản phẩm, thị trường lao động, hệ thống tài chính, quy mô thị trường, động lực kinh doanh, và năng lực sáng tạo - Nguồn: WEF.

Trung Quốc đứng ở vị trí 28 trong xếp hạng, Nga thứ 43 và Ấn Độ ở vị trí 58. So với năm ngoái, Ấn Độ tụt 18 bậc.

Thái Lan xếp thứ 38, tăng 2 bậc so với năm 2017. Indonesia xếp 45, tăng 2 bậc. Malaysia đứng ở vị trí 25, tăng 1 bậc. Philippines xếp thứ 56, tăng 12 bậc.

Những năng lực thiếu hụt

Viện trưởng CIEM nhận xét yếu tố đổi mới sáng tạo của Việt Nam rất thấp. Trong 1 năm trở lại đây, theo ông quan sát, không có một sự thay đổi nào đáng kể.

Như vậy, đây có thể xem là một tín hiệu lo ngại rõ ràng cho việc Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo.

"Không có cách gì khác để cải thiện sức sáng tạo ngoài tạo dựng sự cạnh tranh", ông Cung nói và nhấn mạnh chỉ khi buộc phải tồn tại, doanh nghiệp mới đổi mới. Hiện nay, khi doanh nghiệp vẫn "sống" được bằng quan hệ, bằng cơ chế xin cho, hẳn nhiên, tính sáng tạo bị triệt tiêu.

Nhóm yếu tố khoa học, sáng tạo được coi là điểm yếu lâu dài của Việt Nam, với điểm số, thứ hạng thấp và không cải thiện nhiều trong những năm qua bao gồm năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp - xếp hạng 79, chất lượng nghiên cứu khoa học - xếp hạng 90, mức độ sẵn có của chuyên gia và kỹ sư - xếp hạng 78…

Mặt khác, báo cáo về mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai công bố bởi WEF gần đây cho thấy trong tổng số 100 quốc gia được đánh giá, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia chưa sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai, đặc biệt là các yếu tố về phát triển nguồn nhân lực và đổi mới sáng tạo công nghệ đều có điểm số thấp.

So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam xếp sau Malaysia (xếp hạng thứ 23/100 về công nghệ và đổi mới sáng tạo và 21/100 về nguồn nhân lực), Thái Lan (41/100 về công nghệ và đổi mới sáng tạo, 53/100 về nguồn nhân lực) hay Philippines (59/100 công nghệ và đổi mới sáng tạo và 66/100 về nguồn nhân lực). Việt Nam chỉ xếp hạng gần tương đương Campuchia (xếp hạng tương ứng 83/100 và 86/100).

Tốc độ đổi mới công nghệ cũng là một điểm yếu của Việt Nam. Xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017-2018 cho thấy trụ cột về Mức độ sẵn sàng công nghệ của Việt Nam xếp hạng 71/137, thấp hơn nhiều so với Singapore (14/137), Thái Lan (60/137).

Trong đó, chỉ số thành phần về mức độ sẵn có của công nghệ mới được xếp hạng 112, khả năng hấp thụ công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp xếp hạng 93, chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI xếp hạng 89.

Bên cạnh đó, báo cáo CIEM cũng đánh giá tình trạng nhập khẩu các thiết bị, công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, kém hiệu quả vẫn tồn tại. Theo kết quả điều tra "Công nghệ và cạnh tranh ngành chế biến, chế tạo giai đoạn 2009 - 2012"47, chỉ có khoảng 11% doanh nghiệp phát triển những loại hình công nghệ mới.

Điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2014 cũng cho thấy sự rất hạn chế của doanh nghiệp khi chỉ 6,23% tham gia vào hoạt động nghiên cứu và cứu và triển khai (R&D).

Thực tế này cho thấy Việt Nam cần tạo dựng môi trường thuận lợi, thể chế, chính sách mới cho cộng đồng DN để thúc đẩy quá trình nâng cao công nghệ và sáng tạo, qua đó thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam.

LPB Research tổng hợp

Tin khác

Viết bình luận