Tham khảo Bộ chỉ số quan sát chu kì kinh doanh của Hoa Kì

Tham khảo Bộ chỉ số quan sát chu kì kinh doanh của Hoa Kì

30/01/2018 11:13

Quan sát hiện trạng và dự báo xu hướng của một nền kinh tế là nhiệm vụ quan trọng không chỉ với các nhà đầu tư, doanh nghiệp mà còn của những tổ chức nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách nhằm phục vụ cho việc ra quyết định, quyết sách một cách kịp thời, chính xác nhất. Việc đó đòi hỏi phải thiết lập được một bộ chỉ tiêu đo lường, đánh giá nhất quán về các mặt hoạt động của nền kinh tế. Đứng trước nhu cầu ấy, nhiều cơ quan nghiên cứu, thống kê của các nước đã được thành lập, và một trong những tổ chức đi đầu, có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lĩnh vực này là Ủy ban tư vấn Hoa Kì (The Conference Board). Cơ quan này hiện đang đảm nhiệm việc tính toán và theo dõi ba loại chỉ số quan sát chu kì kinh doanh không chỉ cho nước Mỹ mà còn nhiều nước khác, và khu vực đồng tiền chung châu Âu. Những tiêu chuẩn do Ủy ban này đặt ra đã dần trở thành chuẩn mực chung cho quốc gia khác tham khảo, cũng như là chỉ báo tiên quyết cho hoạt động kinh doanh toàn cầu của các doanh nghiệp bởi tầm ảnh hưởng lớn của nước Mỹ với kinh tế thế giới. 

Trong khi đó ở nước ta, dù đang trong tiến trình hội nhập tích cực và có nhiều hoạt động thương mại đa phương, hệ quả là khu vực kinh tế trong nước ngày càng phụ thuộc nhiều vào sự biến động của kinh tế thế giới nhưng cho đến nay vẫn chưa thiết lập được một bộ chỉ tiêu chuyên biệt nhằm quan sát và dự báo thị trường, phục vụ việc cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư và ra quyết định chính sách của các cơ quan quản lí. Khi quy mô nền kinh tế còn nhỏ và mức độ hội nhập chưa sâu thì điều đó có thể chưa thực sự cần thiết, nhưng nếu đã phát triển đến một mức độ nhất định thì Việt Nam cần học hỏi những chuẩn mực chung, những cách làm hay của thế giới để từng bước minh bạch hóa nền kinh tế và tăng cường thu hút đầu tư cả từ trong và ngoài nước. Dưới đây là bộ chỉ số quan sát chu kì kinh doanh (Business Cycle Indicators – BCI) do Ủy ban tư vấn Hoa Kì thiết lập và đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới mà Việt Nam có thể tham khảo, chắt lọc áp dụng. Cụ thể:

  • Chỉ số dẫn dắt thị trường (Leading Indicator): là các chỉ tiêu có tính chất dự báo trước những biến chuyển của chu kì kinh doanh, những biến động của nền kinh tế trong ngắn hạn.
  • Chỉ số hiện trạng thị trường (Coincident Indicator): là các chỉ tiêu phản ánh hiện trạng thị trường tại thời điểm đo lường.
  • Chỉ số trễ thị trường (Lagging Indicator): là các chỉ tiêu có tính chất xác nhận những biến chuyển của chu kì kinh doanh, những biến động của nền kinh tế sau khi đã xảy ra. 

STT

(Mã hiệu)*

Chỉ số

Dẫn giải

Giải thích

Chỉ báo

Tăng trưởng

Suy thoái

I

Các chỉ số dẫn dắt - Leading Indicators

1

(BCI-01)

Average weekly hours for manufacturing

Số giờ làm việc trung bình tuần của một công nhân trong các ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo

Các chủ doanh nghiệp thường điều chỉnh số giờ làm việc của người lao động trước khi tăng hoặc giảm số lượng nhân công, dựa trên kì vọng của họ về tình hình kinh tế sắp tới. Nếu dự đoán kinh tế sẽ suy thoái, chủ doanh nghiệp có xu hướng cắt giảm số giờ làm việc của những lao động hiện có, trước khi tiến hành sa thải nhân công dư thừa, và ngược lại.

Tăng

Giảm

2

(BCI-05)

Average weekly initial claims for unemployment insurance

Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp trung bình tuần của người lao động

Khi nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái, lượng lao động thất nghiệp và kèm theo đó là số đơn xin trợ cấp thất nghiệp có xu hướng tăng lên, và ngược lại.

Giảm

Tăng

3

(BCI-08)

Manufacturers' new orders for consumer goods and materials

Số đơn đặt hàng mới của doanh nghiệp phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và kinh doanh

Khi các doanh nghiệp kì vọng kinh tế sẽ tăng trưởng trong thời gian tới, họ có xu hướng chi tiêu và đầu tư mạnh mẽ hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều đó khiến số lượng đơn đặt hàng của khu vực doanh nghiệp về các mặt hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu tăng lên.

Tăng

Giảm

4

(BCI-130)

ISM new order index

Số đơn đặt hàng mới từ khách hàng với các doanh nghiệp

Đây là một dạng chỉ số phức hợp về số đơn đặt hàng mới những hàng hóa cuối cùng (final goods), phục vụ cho mục đích kinh doanh, tiêu dùng, được đo lường và theo dõi biến động qua các tháng bởi Viện quản trị cung ứng Hoa Kì. Khi kinh tế có dấu hiệu phục hồi, nhu cầu thị trường tăng tất yếu chỉ số này cũng tăng, và ngược lại.

Tăng

Giảm

5

(BCI-33)

Manufacturers' new orders for non-defense capital goods excluding aircraft

Số đơn đặt hàng mới máy móc, thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất, trừ phương tiện bay

Khi đem chỉ số này cộng với số đơn đặt hàng các phương tiện bay – một phương tiện sản xuất thông thường, sẽ cho kết quả bằng với chỉ số BCI-08, nên ý nghĩa của chỉ số này tương tự như chỉ số BI-08.

Tăng

Giảm

6

(BCI-29)

Building permits for new private housing units

Số giấy phép cấp mới xây dựng nhà ở/văn phòng

Do xây dựng là một ngành cơ bản của nền kinh tế, là động lực cho tăng trưởng trong dài hạn, nên sự biến động của chỉ số này thường đi kèm với những kì vọng, dự báo về các hoạt động kinh tế khác trong tương lai.

Tăng

Giảm

7

(BCI-19)

S&P 500 Index

Chỉ số giá bình quân gia quyền của 500 công ty có mức vốn hóa lớn nhất trên NYSE và NASDAQ, được đo lường v cung cấp bởi hãng S&P Dow Jones Indices

Những biến động lên/xuống của chỉ số giá chứng khoán thường phản ánh tâm lý tích cực/tiêu cực và kì vọng tốt/xấu của các nhà đầu tư về thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế nói chung ở hiện tại và tương lai, cũng như xu hướng thay đổi sắp tới của lãi suất.

Tăng

Giảm

8

(BCI-107)

Leading Credit Index

Tổng hợp thông tin từ sáu chỉ số tài chính cơ bản có tính dẫn dắt khác

Phản ánh sức mạnh của một hệ thống tài chính trong việc chống chịu với các cú sốc. Một hệ thống tài chính dễ bị tổn thương có thể khuyếch đại và lây lan những tác động tiêu cực, để rồi gây ra ảnh hưởng xấu tới cả nền kinh tế. Điều ngược lại chỉ xảy ra ở một nền tài chính vững mạnh, minh bạch.

Tăng

Giảm

9

(BCI-129)

Interest rate spread between 10-year treasury yields and overnight borrowing rates (federal funds rate)

Khoảng chênh giữa lợi suất trái phiếu Chính phủ kì hạn 10 năm và lãi suất liên ngân hàng qua đêm hoặc lãi suất chiết khấu ngắn hạn của NHTW với các NHTM

Mối quan hệ giữa lãi suất ngắn hạn và dài hạn thường được biểu diễn trên đường cong lãi suất (yield curve) – dùng để phản ánh và dự báo về chính sách tiền tệ. Dễ dàng nhận thấy khoảng chênh giữa hai mức lãi suất sẽ tăng lên khi lãi suất ngắn hạn giảm xuống và ngược lại. Khi khoảng chênh này nhận giá trị âm, điều đó có nghĩa lãi suất ngắn hạn đang cao hơn lãi suất dài hạn và đường cong lãi suất có hướng dốc xuống. Đây là một chỉ báo của sự suy thoái do thị trường đang kì vọng lãi suất sẽ giảm trong tương lai.

Tăng

Giảm

10

(BCI-125)

Average Consumer Expectations for Business and Economic Conditions

Mức kì vọng bình quân của người tiêu dùng về tình hình kinh doanh và kinh tế trong tương lai

Phản ánh những kì vọng của một người tiêu dùng điển hình về tình hình kinh tế sắp tới, để từ đó dự báo mức chi tiêu tiêu dùng của người dân trong tương lai.

Tăng

Giảm

II

Các chỉ số hiện trạng - Coincident Indicators

1

(BCI-41)

Employees on non-agricultural payrolls

Lao động trong các khu vực phi nông nghiệp

Được đo lường và theo dõi bởi Cơ quan Thống kê lao động Hoa Kì, với đối tượng gồm cả lao động toàn thời gian và bán thời gian, không phân biệt làm lâu dài hay thời vụ. Sự biến động của chỉ số này phản ánh mức thuê nhân công ròng (thuê thêm trừ sa thải bớt) của khu vực phi nông nghiệp, là một chỉ báo cho sức khỏe của hoạt động sản xuất và nền kinh tế.

Tăng

Giảm

2

(BCI-51)

Aggregate real personal income (less transfer payments)

Tổng thu nhập thực của các cá nhân, trừ những khoản trợ cấp

Đo lường tổng thu nhập của các đối tượng phi doanh nghiệp sau khi loại bỏ các khoản trợ cấp từ Chính phủ.

Tăng

Giảm

3

(BCI-47)

Industrial Production Index

Tổng sản lượng công nghiệp của nền kinh tế

Theo dõi sự thay đổi của sản lượng ngành công nghiệp – một ngành có sự biến động mạnh mẽ nhất trong nền kinh tế (ngược lại với sự ổn định từ khu vực dịch vụ).

Tăng

Giảm

4

(BCI-57)

Manufacturing and trade sales

Tổng giá trị sản xuất và thương mại của nền kinh tế

Có ý nghĩa tương tự như Chỉ số thu nhập cá nhân thực và Chỉ số sản xuất công nghiệp do đều phản ánh sức mạnh của nền kinh tế. Điều đặc biệt ở đây là tổng giá trị này thường lớn hơn GDP/năm của một quốc gia, do có nhiều mặt hàng giao dịch trên thị trường được tính vào chỉ số là hàng hóa trung gian trong quá trình sản xuất.

Tăng

Giảm

III

Các chỉ số trễ - Lagging Indicators

1

(BCI-91)

Average duration of unemployment

Thời gian thất nghiệp trung bình của một người lao động

Chỉ số này thường có xu hướng tăng ở thời kì suy thoái, khi nền kinh tế có dấu hiệu chững lại và doanh nghiệp sa thải bớt nhân công; trong khi giảm ở giai đoạn tăng trưởng khi doanh nghiệp dần lấy lại động lực sản xuất và thuê thêm nhân công,

Giảm

Tăng

2

(BCI-77)

Inventory–sales ratio

Tỷ lệ giữa lượng hàng tồn kho và doanh thu bán hàng

Do trong thời kì suy thoái, sản xuất đình đốn khiến hàng tồn kho thường tích tụ lại, đi kèm với việc doanh số giảm nên tỷ lệ này thường khá cao và ngược lại.

Giảm

Tăng

3

(BCI- 62)

Change in unit labor costs

Tỷ lệ phần trăm thay đổi chi phí nhân công trên một đơn vị sản lượng qua các kì

Được tính bằng cách lấy tổng chi phí nhân công chia cho tổng sản lượng sản xuất trong kì; và thường được ghi nhận sáu tháng một lần để tránh làm nhiễu số liệu. Trong giai đoạn suy thoái, do sản lượng suy giảm nhanh hơn chi phí nhân công (việc sa thải lao động thường diễn ra chậm) khiến chỉ số này ban đầu tăng lên, lập đỉnh, rồi sau đó mới giảm xuống. Điều ngược lại xảy ra ở thời kì kinh tế tăng trưởng.

Giảm rồi tăng

Tăng rồi giảm

4

(BCI-109)

Average prime rate charged by banks

Lãi suất cơ bản bình quân trên thị trường

Mặc dù lãi suất cơ bản được coi mức tiêu chuẩn để định ra lãi suất cho các món vay khác nhưng sự thay đổi của nó thường có một độ trễ nhất định, xảy ra sau các biến động lớn của nền kinh tế.  

Tăng

Giảm

5

(BCI-101)

Commercial and industrial loans outstanding

Số dư nợ vay của các tổ chức phi tài chính phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh

Sau khi tăng trưởng nóng, nền kinh tế rơi vào thời kì suy thoái khiến lợi nhuận của các doanh nghiệp sụt giảm và phải đi vay nhiều hơn để bù đắp cho vốn kinh doanh. Do vậy chỉ số này thường tăng ở giai đoạn đầu của kì thoái trào rồi sau đó mới từ từ giảm xuống. Ngược lại, chỉ số này sẽ chạm đáy ở giai đoạn kinh tế đi lên, thường sau khoảng một năm từ khi suy thoái kết thúc.

Giảm rồi tăng

Tăng rồi giảm

6

(BCI-95)

Ratio of consumer installment debt to income

Tỷ lệ giữa số dư nợ vay trả góp mua hàng và thu nhập của người tiêu dùng

Người tiêu dùng thường chỉ chấp nhận mua trả góp khi kì vọng thu nhập trong thời gian tới sẽ khá hơn. Nhưng trong thời kì suy thoái, thu nhập thường giảm nhanh trong khi các món vay đã hình thành từ trước chưa kịp đáo hạn sẽ khiến tỷ lệ này ban đầu tăng lên, rồi sau đó giảm xuống. Và ngược lại, ở giai đoạn kinh tế phục hồi, chỉ số này sẽ lập đáy rồi bật tăng lên.

Giảm rồi tăng

 

Tăng rồi giảm

7

(BCI-120)

Change in consumer price index for services

Tỷ lệ thay đổi đóng góp bởi giá dịch vụ trong Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Do sự cứng nhắc trong ngắn hạn của thị trường nên lạm phát ở khu vực dịch vụ thường có một độ trễ nhất định so với các khu vực khác. Lạm phát thường tăng trong những tháng đầu tiên của thời kì suy thoái (theo quán tính từ giai đoạn tăng trưởng nóng) và ngược lại, giảm trong những tháng đầu tiên của thời kì tăng trưởng.

Giảm rồi tăng

Tăng rồi giảm

(*Theo The Conference Board)

LPB Research

 

Tham khảo Bộ chỉ số quan sát chu kì kinh doanh của Hoa Kì

Quan sát hiện trạng và dự báo xu hướng của một nền kinh tế là nhiệm vụ quan trọng không chỉ với các nhà đầu tư, doanh nghiệp mà còn của những tổ chức nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách nhằm phục vụ cho việc ra quyết định, quyết sách một cách kịp thời, chính xác nhất. Việc đó đòi hỏi phải thiết lập được một bộ chỉ tiêu đo lường, đánh giá nhất quán về các mặt hoạt động của nền kinh tế. Đứng trước nhu cầu ấy, nhiều cơ quan nghiên cứu, thống kê của các nước đã được thành lập, và một trong những tổ chức đi đầu, có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lĩnh vực này là Ủy ban tư vấn Hoa Kì (The Conference Board). Cơ quan này hiện đang đảm nhiệm việc tính toán và theo dõi ba loại chỉ số quan sát chu kì kinh doanh không chỉ cho nước Mỹ mà còn nhiều nước khác, và khu vực đồng tiền chung châu Âu. Những tiêu chuẩn do Ủy ban này đặt ra đã dần trở thành chuẩn mực chung cho quốc gia khác tham khảo, cũng như là chỉ báo tiên quyết cho hoạt động kinh doanh toàn cầu của các doanh nghiệp bởi tầm ảnh hưởng lớn của nước Mỹ với kinh tế thế giới. 

Trong khi đó ở nước ta, dù đang trong tiến trình hội nhập tích cực và có nhiều hoạt động thương mại đa phương, hệ quả là khu vực kinh tế trong nước ngày càng phụ thuộc nhiều vào sự biến động của kinh tế thế giới nhưng cho đến nay vẫn chưa thiết lập được một bộ chỉ tiêu chuyên biệt nhằm quan sát và dự báo thị trường, phục vụ việc cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư và ra quyết định chính sách của các cơ quan quản lí. Khi quy mô nền kinh tế còn nhỏ và mức độ hội nhập chưa sâu thì điều đó có thể chưa thực sự cần thiết, nhưng nếu đã phát triển đến một mức độ nhất định thì Việt Nam cần học hỏi những chuẩn mực chung, những cách làm hay của thế giới để từng bước minh bạch hóa nền kinh tế và tăng cường thu hút đầu tư cả từ trong và ngoài nước. Dưới đây là bộ chỉ số quan sát chu kì kinh doanh (Business Cycle Indicators – BCI) do Ủy ban tư vấn Hoa Kì thiết lập và đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới mà Việt Nam có thể tham khảo, chắt lọc áp dụng. Cụ thể:

  • Chỉ số dẫn dắt thị trường (Leading Indicator): là các chỉ tiêu có tính chất dự báo trước những biến chuyển của chu kì kinh doanh, những biến động của nền kinh tế trong ngắn hạn.
  • Chỉ số hiện trạng thị trường (Coincident Indicator): là các chỉ tiêu phản ánh hiện trạng thị trường tại thời điểm đo lường.
  • Chỉ số trễ thị trường (Lagging Indicator): là các chỉ tiêu có tính chất xác nhận những biến chuyển của chu kì kinh doanh, những biến động của nền kinh tế sau khi đã xảy ra. 

STT

(Mã hiệu)*

Chỉ số

Dẫn giải

Giải thích

Chỉ báo

Tăng trưởng

Suy thoái

I

Các chỉ số dẫn dắt - Leading Indicators

1

(BCI-01)

Average weekly hours for manufacturing

Số giờ làm việc trung bình tuần của một công nhân trong các ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo

Các chủ doanh nghiệp thường điều chỉnh số giờ làm việc của người lao động trước khi tăng hoặc giảm số lượng nhân công, dựa trên kì vọng của họ về tình hình kinh tế sắp tới. Nếu dự đoán kinh tế sẽ suy thoái, chủ doanh nghiệp có xu hướng cắt giảm số giờ làm việc của những lao động hiện có, trước khi tiến hành sa thải nhân công dư thừa, và ngược lại.

Tăng

Giảm

2

(BCI-05)

Average weekly initial claims for unemployment insurance

Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp trung bình tuần của người lao động

Khi nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái, lượng lao động thất nghiệp và kèm theo đó là số đơn xin trợ cấp thất nghiệp có xu hướng tăng lên, và ngược lại.

Giảm

Tăng

3

(BCI-08)

Manufacturers' new orders for consumer goods and materials

Số đơn đặt hàng mới của doanh nghiệp phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và kinh doanh

Khi các doanh nghiệp kì vọng kinh tế sẽ tăng trưởng trong thời gian tới, họ có xu hướng chi tiêu và đầu tư mạnh mẽ hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều đó khiến số lượng đơn đặt hàng của khu vực doanh nghiệp về các mặt hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu tăng lên.

Tăng

Giảm

4

(BCI-130)

ISM new order index

Số đơn đặt hàng mới từ khách hàng với các doanh nghiệp

Đây là một dạng chỉ số phức hợp về số đơn đặt hàng mới những hàng hóa cuối cùng (final goods), phục vụ cho mục đích kinh doanh, tiêu dùng, được đo lường và theo dõi biến động qua các tháng bởi Viện quản trị cung ứng Hoa Kì. Khi kinh tế có dấu hiệu phục hồi, nhu cầu thị trường tăng tất yếu chỉ số này cũng tăng, và ngược lại.

Tăng

Giảm

5

(BCI-33)

Manufacturers' new orders for non-defense capital goods excluding aircraft

Số đơn đặt hàng mới máy móc, thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất, trừ phương tiện bay

Khi đem chỉ số này cộng với số đơn đặt hàng các phương tiện bay – một phương tiện sản xuất thông thường, sẽ cho kết quả bằng với chỉ số BCI-08, nên ý nghĩa của chỉ số này tương tự như chỉ số BI-08.

Tăng

Giảm

6

(BCI-29)

Building permits for new private housing units

Số giấy phép cấp mới xây dựng nhà ở/văn phòng

Do xây dựng là một ngành cơ bản của nền kinh tế, là động lực cho tăng trưởng trong dài hạn, nên sự biến động của chỉ số này thường đi kèm với những kì vọng, dự báo về các hoạt động kinh tế khác trong tương lai.

Tăng

Giảm

7

(BCI-19)

S&P 500 Index

Chỉ số giá bình quân gia quyền của 500 công ty có mức vốn hóa lớn nhất trên NYSE và NASDAQ, được đo lường v cung cấp bởi hãng S&P Dow Jones Indices

Những biến động lên/xuống của chỉ số giá chứng khoán thường phản ánh tâm lý tích cực/tiêu cực và kì vọng tốt/xấu của các nhà đầu tư về thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế nói chung ở hiện tại và tương lai, cũng như xu hướng thay đổi sắp tới của lãi suất.

Tăng

Giảm

8

(BCI-107)

Leading Credit Index

Tổng hợp thông tin từ sáu chỉ số tài chính cơ bản có tính dẫn dắt khác

Phản ánh sức mạnh của một hệ thống tài chính trong việc chống chịu với các cú sốc. Một hệ thống tài chính dễ bị tổn thương có thể khuyếch đại và lây lan những tác động tiêu cực, để rồi gây ra ảnh hưởng xấu tới cả nền kinh tế. Điều ngược lại chỉ xảy ra ở một nền tài chính vững mạnh, minh bạch.

Tăng

Giảm

9

(BCI-129)

Interest rate spread between 10-year treasury yields and overnight borrowing rates (federal funds rate)

Khoảng chênh giữa lợi suất trái phiếu Chính phủ kì hạn 10 năm và lãi suất liên ngân hàng qua đêm hoặc lãi suất chiết khấu ngắn hạn của NHTW với các NHTM

Mối quan hệ giữa lãi suất ngắn hạn và dài hạn thường được biểu diễn trên đường cong lãi suất (yield curve) – dùng để phản ánh và dự báo về chính sách tiền tệ. Dễ dàng nhận thấy khoảng chênh giữa hai mức lãi suất sẽ tăng lên khi lãi suất ngắn hạn giảm xuống và ngược lại. Khi khoảng chênh này nhận giá trị âm, điều đó có nghĩa lãi suất ngắn hạn đang cao hơn lãi suất dài hạn và đường cong lãi suất có hướng dốc xuống. Đây là một chỉ báo của sự suy thoái do thị trường đang kì vọng lãi suất sẽ giảm trong tương lai.

Tăng

Giảm

10

(BCI-125)

Average Consumer Expectations for Business and Economic Conditions

Mức kì vọng bình quân của người tiêu dùng về tình hình kinh doanh và kinh tế trong tương lai

Phản ánh những kì vọng của một người tiêu dùng điển hình về tình hình kinh tế sắp tới, để từ đó dự báo mức chi tiêu tiêu dùng của người dân trong tương lai.

Tăng

Giảm

II

Các chỉ số hiện trạng - Coincident Indicators

1

(BCI-41)

Employees on non-agricultural payrolls

Lao động trong các khu vực phi nông nghiệp

Được đo lường và theo dõi bởi Cơ quan Thống kê lao động Hoa Kì, với đối tượng gồm cả lao động toàn thời gian và bán thời gian, không phân biệt làm lâu dài hay thời vụ. Sự biến động của chỉ số này phản ánh mức thuê nhân công ròng (thuê thêm trừ sa thải bớt) của khu vực phi nông nghiệp, là một chỉ báo cho sức khỏe của hoạt động sản xuất và nền kinh tế.

Tăng

Giảm

2

(BCI-51)

Aggregate real personal income (less transfer payments)

Tổng thu nhập thực của các cá nhân, trừ những khoản trợ cấp

Đo lường tổng thu nhập của các đối tượng phi doanh nghiệp sau khi loại bỏ các khoản trợ cấp từ Chính phủ.

Tăng

Giảm

3

(BCI-47)

Industrial Production Index

Tổng sản lượng công nghiệp của nền kinh tế

Theo dõi sự thay đổi của sản lượng ngành công nghiệp – một ngành có sự biến động mạnh mẽ nhất trong nền kinh tế (ngược lại với sự ổn định từ khu vực dịch vụ).

Tăng

Giảm

4

(BCI-57)

Manufacturing and trade sales

Tổng giá trị sản xuất và thương mại của nền kinh tế

Có ý nghĩa tương tự như Chỉ số thu nhập cá nhân thực và Chỉ số sản xuất công nghiệp do đều phản ánh sức mạnh của nền kinh tế. Điều đặc biệt ở đây là tổng giá trị này thường lớn hơn GDP/năm của một quốc gia, do có nhiều mặt hàng giao dịch trên thị trường được tính vào chỉ số là hàng hóa trung gian trong quá trình sản xuất.

Tăng

Giảm

III

Các chỉ số trễ - Lagging Indicators

1

(BCI-91)

Average duration of unemployment

Thời gian thất nghiệp trung bình của một người lao động

Chỉ số này thường có xu hướng tăng ở thời kì suy thoái, khi nền kinh tế có dấu hiệu chững lại và doanh nghiệp sa thải bớt nhân công; trong khi giảm ở giai đoạn tăng trưởng khi doanh nghiệp dần lấy lại động lực sản xuất và thuê thêm nhân công,

Giảm

Tăng

2

(BCI-77)

Inventory–sales ratio

Tỷ lệ giữa lượng hàng tồn kho và doanh thu bán hàng

Do trong thời kì suy thoái, sản xuất đình đốn khiến hàng tồn kho thường tích tụ lại, đi kèm với việc doanh số giảm nên tỷ lệ này thường khá cao và ngược lại.

Giảm

Tăng

3

(BCI- 62)

Change in unit labor costs

Tỷ lệ phần trăm thay đổi chi phí nhân công trên một đơn vị sản lượng qua các kì

Được tính bằng cách lấy tổng chi phí nhân công chia cho tổng sản lượng sản xuất trong kì; và thường được ghi nhận sáu tháng một lần để tránh làm nhiễu số liệu. Trong giai đoạn suy thoái, do sản lượng suy giảm nhanh hơn chi phí nhân công (việc sa thải lao động thường diễn ra chậm) khiến chỉ số này ban đầu tăng lên, lập đỉnh, rồi sau đó mới giảm xuống. Điều ngược lại xảy ra ở thời kì kinh tế tăng trưởng.

Giảm rồi tăng

Tăng rồi giảm

4

(BCI-109)

Average prime rate charged by banks

Lãi suất cơ bản bình quân trên thị trường

Mặc dù lãi suất cơ bản được coi mức tiêu chuẩn để định ra lãi suất cho các món vay khác nhưng sự thay đổi của nó thường có một độ trễ nhất định, xảy ra sau các biến động lớn của nền kinh tế.  

Tăng

Giảm

5

(BCI-101)

Commercial and industrial loans outstanding

Số dư nợ vay của các tổ chức phi tài chính phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh

Sau khi tăng trưởng nóng, nền kinh tế rơi vào thời kì suy thoái khiến lợi nhuận của các doanh nghiệp sụt giảm và phải đi vay nhiều hơn để bù đắp cho vốn kinh doanh. Do vậy chỉ số này thường tăng ở giai đoạn đầu của kì thoái trào rồi sau đó mới từ từ giảm xuống. Ngược lại, chỉ số này sẽ chạm đáy ở giai đoạn kinh tế đi lên, thường sau khoảng một năm từ khi suy thoái kết thúc.

Giảm rồi tăng

Tăng rồi giảm

6

(BCI-95)

Ratio of consumer installment debt to income

Tỷ lệ giữa số dư nợ vay trả góp mua hàng và thu nhập của người tiêu dùng

Người tiêu dùng thường chỉ chấp nhận mua trả góp khi kì vọng thu nhập trong thời gian tới sẽ khá hơn. Nhưng trong thời kì suy thoái, thu nhập thường giảm nhanh trong khi các món vay đã hình thành từ trước chưa kịp đáo hạn sẽ khiến tỷ lệ này ban đầu tăng lên, rồi sau đó giảm xuống. Và ngược lại, ở giai đoạn kinh tế phục hồi, chỉ số này sẽ lập đáy rồi bật tăng lên.

Giảm rồi tăng

 

Tăng rồi giảm

7

(BCI-120)

Change in consumer price index for services

Tỷ lệ thay đổi đóng góp bởi giá dịch vụ trong Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Do sự cứng nhắc trong ngắn hạn của thị trường nên lạm phát ở khu vực dịch vụ thường có một độ trễ nhất định so với các khu vực khác. Lạm phát thường tăng trong những tháng đầu tiên của thời kì suy thoái (theo quán tính từ giai đoạn tăng trưởng nóng) và ngược lại, giảm trong những tháng đầu tiên của thời kì tăng trưởng.

Giảm rồi tăng

Tăng rồi giảm

(*Theo The Conference Board)

LPB Research

 

Tin khác

Viết bình luận